Cuối tháng 10-2004, trong một lần bị đau bụng, nôn ói, N.Đ.K, 15 tuổi, ngụ tại phường 3, quận Gò Vấp, ra tiệm thuốc tây mua thuốc uống. Ngày 31-10, K. được chuyển vào Bệnh viện (BV) 175 trong tình trạng da lạnh, trụy mạch, loạn nhịp tim. Tại Khoa Hồi sức tích cực, K. được đặt nội khí quản, sốc điện và dùng thuốc vận mạch. Nhờ sự cứu chữa tận tình của tập thể y-bác sĩ tại đây, K. được cứu sống trong gang tấc. Qua xem xét những loại thuốc mà K. đã uống, bác sĩ Nguyễn Đức Thành, người trực tiếp điều trị, cho biết nhiều khả năng em bị viêm cơ tim do ngộ độc Bactrim, một loại kháng sinh mà các tiệm thuốc tây thường bán cho những người bị viêm nhiễm đường ruột.
Dùng không đúng, thuốc làm bệnh nặng thêm!
Chị T.T.M, 53 tuổi, ngụ tại Đà Nẵng, cho biết 10 năm trước chị bị rối loạn tiền đình, ngày nào cũng mất ngủ, chóng mặt và ói mửa. Biết chị mắc bệnh, ba của chị tại Mỹ đã gửi về một lọ thuốc an thần Nortriptyline-hydrochloride (25 mg). Chị uống thử 1 viên vào buổi tối, kết quả là ngủ rất ngon, cảm giác buồn nôn, chóng mặt biến mất. Từ đó trở đi ngày nào trước khi đi ngủ chị cũng uống một viên và thế là sau gần 10 năm, chị đã... nghiện thuốc, tối nào không uống là sáng hôm sau bị chóng mặt, buồn nôn, thậm chí là... nóng sốt!
Bác sĩ Lâm Xuân Điền, Giám đốc BV Tâm thần TP Hồ Chí Minh, cho biết phần lớn các loại thuốc trị tâm thần, trầm cảm, lo âu đều gây nhiều tác dụng phụ. Chẳng hạn, thuốc dùng chữa trầm cảm không đúng chẳng những bị nghiện mà còn có thể làm bệnh nặng thêm, người bệnh ngày càng buồn bã, chán nản, không còn hứng thú làm việc, dễ tự tử! Vì thế muốn sử dụng những loại thuốc này, cần phải có chỉ định của bác sĩ chuyên khoa.
Thuốc cảm cũng gây độc!
Trong thực tế, không chỉ những loại kháng sinh, thuốc đặc trị gây ra phản ứng phụ mà cả những loại thuốc thông thường như vitamin hay thuốc cảm cũng có thể gây ra tai biến, đôi khi đe dọa đến tính mạng. Một nghiên cứu của các bác sĩ Nguyễn Thế Cường và Phạm Duệ trên 14 bệnh nhân vào cấp cứu tại BV Bạch Mai vì đau đầu và choáng váng sau khi uống thuốc điều trị cảm cúm (Rhumenol, Decolgen, Decolsin, Medicolac) cho thấy tất cả đều có tăng huyết áp, thậm chí 1 người còn bị loạn nhịp tim! Đáng nói là trước đó không người nào trong số này từng bị bệnh tim mạch. Tai biến ở đây được quy cho Phenylpropanolamin, một thành phần thường có trong thuốc cảm để làm giảm nghẹt mũi, tuy nhiên chất này lại có thể gây tăng huyết áp, loạn nhịp tim, đau ngực... Theo các tác giả nghiên cứu, sự cố liên quan đến thuốc cảm cúm thường do người dân dùng thuốc với liều tùy tiện, khi thấy chưa tác dụng thì lại uống thêm, điều này dễ dẫn đến quá liều, làm cho các triệu chứng nặng thêm và càng dễ bị tác dụng không mong muốn.
Tuy nhiên, ngay cả Acetaminophen, thành phần chính trong những loại thuốc giảm đau, chữa cảm cúm hiện nay cũng không phải là... vô hại. Tháng 7-2004, Gary Curhan, nhà nghiên cứu tại BV Phụ nữ Boston (Hoa Kỳ), đã công bố một khảo sát cho thấy việc dùng Acetaminophen (Tylenol) lâu ngày có thể dẫn đến chứng suy thận. Cụ thể những ai dùng từ 1.500 – 9.000 viên Tylenol có nguy cơ bị xáo trộn chức năng thận đến 64% và trong số 1.700 phụ nữ được nghiên cứu, 10% người sử dụng Acetaminophen trên 11 năm đã bị giảm chức năng lọc thận. Curhan nói: “Nghiên cứu này không nhằm khuyến cáo mọi người ngưng sử dụng Acetaminophen, mà gợi ý bác sĩ sử dụng những biện pháp giảm đau khác trong trường hợp bệnh nhân phải điều trị kéo dài”.
PHAN SƠN - THÙY DƯƠNG
| Tám điều cần biết về một loại thuốc trước khi sử dụng 1. Thành phần: Ghi tên hoạt chất và các tá dược. Thí dụ thuốc có tên biệt dược là zentel hoặc albendazol trong thành phần ghi hoạt chất chính là albendazole là thuốc trị giun sán và thêm khá nhiều tá dược để tạo thành thuốc viên nén. Ta cần biết tên hoạt chất vì đây chính là tên thuốc dùng cho việc điều trị. Nhiều người cao tuổi tự ý dùng nhiều loại biệt dược khác nhau, tưởng là các loại thuốc khác nhau, nhưng thực chất chỉ là một loại hoạt chất đưa đến ngộ độc vì dùng quá liều (ở nước ngoài thường xảy ra vụ người già ngộ độc Paracetamol). 2. Chỉ định: Là phần ghi những trường hợp dùng thuốc. Có thể ghi trường hợp bệnh (điều trị cơn cao huyết áp) hoặc ghi trị tác nhân bệnh (trị giun đũa, giun kim, giun móc) hoặc dùng để dự phòng (dự phòng cơn đau thắt ngực). Ta cần đọc phần này để xem thuốc có phù hợp với bệnh đang được điều trị hay không. 3. Cách dùng - Liều dùng: Ghi cách dùng thuốc như thế nào như: ngậm dưới lưỡi, uống hoặc tiêm bắp, tiêm tĩnh mạch... Còn liều được ghi: liều dùng cho 1 lần, liều trong 24 giờ (tức trong một ngày). Liều cho một đợt điều trị. Thí dụ: Thuốc được ghi: 500 mg x 3 lần/ngày, trong 10 ngày, có nghĩa là mỗi lần dùng 500 mg thuốc (thường là uống 1 viên chứa 500 mg hoạt chất), dùng 3 lần trong ngày, dùng trong 10 ngày liên tiếp. 4. Chống chỉ định: Phải hiểu là “chống chỉ định tuyệt đối”, tức là không vì lý do nào đó được linh động dùng thuốc. Thí dụ: Thuốc được ghi chống chỉ định đối với trẻ dưới 15 tuổi, ta phải tuyệt đối theo đúng điều này, đừng vì thấy trẻ 13 - 14 tuổi lớn con, có vẻ già dặn ta lại cho dùng thuốc. 5. Lưu ý - Thận trọng: Có thể được xem là “chống chỉ định tương đối” nghĩa là có những trường hợp không được dùng thuốc nhưng không cấm hoàn toàn. Thí dụ, thuốc ghi: “Người lái xe hay vận hành máy móc cần thận trọng khi sử dụng thuốc do thuốc có thể gây buồn ngủ ngầy ngật”, nên hiểu người lái xe hay vận hành máy móc nếu phải làm việc nên tránh dùng thuốc, còn không làm việc vẫn có thể dùng. Hoặc thuốc ghi: “Thận trọng khi chỉ định cho trẻ dưới 2 tuổi”, có nghĩa là tốt nhất nên tránh dùng cho trẻ dưới 2 tuổi, nhưng vì sự cần thiết bác sĩ vẫn có thể chỉ định thuốc cho trẻ và theo dõi kỹ. 6. Tác dụng phụ (hoặc tác dụng ngoại ý): Là phần ghi những tác dụng không phải dùng trong điều trị, xảy ra ngoài ý muốn. Thí dụ: Một số thuốc dùng trong bệnh lý tim mạch uống vào là gây ho khan hoặc có thuốc làm cho phân có màu đen, làm nước tiểu có màu vàng, màu xanh, màu đỏ v.v... Một số tác dụng phụ của thuốc thường hay gặp: đau bụng vùng thượng vị, buồn nôn, nôn, tiêu chảy, nhức đầu, chóng mặt... thường các tác dụng phụ này sẽ mất đi khi ngưng dùng thuốc. 7. Tương tác thuốc: Là phần ghi thuốc sẽ dùng nếu dùng cùng lúc với một số thuốc khác sẽ bị các phản ứng bất lợi. Thí dụ aspirin nếu dùng chung với các thuốc giảm đau chống viêm giống như nó (được gọi là các thuốc chống viêm không steroid) sẽ đưa đến tương tác thuốc dễ làm tổn hại niêm mạc dạ dày (hại bao tử) hơn. 8. Hạn dùng: Được ghi trên bao bì (nhãn thuốc, vĩ thuốc, lọ thuốc hoặc hộp giấy đựng lọ thuốc). Hạn dùng được định nghĩa là “khoảng thời gian sử dụng ấn định cho một lô thuốc (thuốc được sản xuất theo lô), sau thời hạn này thuốc đó không còn giá trị sử dụng”. Như vậy nếu đọc trên nhãn thuốc hoặc bao bì: H.D (hoặc exp): 30 tháng 6 năm 2004, có nghĩa là trong suốt thời gian từ lúc thuốc xuất xưởng đến hết ngày 30 tháng 6 năm 2004 thuốc có giá trị sử dụng đến ngày 1-7-2004 thuốc quá hạn dùng không còn giá trị, phải bỏ đi, không được sử dụng. Tiến sĩ - Dược sĩ NGUYỄN HỮU ĐỨC |