Căn tính chèo và nhịp sống mới


Giáo sư Hà Văn Cầu được biết tới như một nhà nghiên cứu chèo thuộc thế hệ đàn anh. Sinh 1927 tại Thái Bình-nơi mà nghệ thuật hát chèo được nuôi dưỡng và thăng hoa, giáo sư Hà Văn Cầu vốn đã say mê tiếng trống chèo từ nhỏ. Ông cũng được thừa hưởng truyền thống của một gia đình nho học, được sự dạy dỗ chu đáo của cha và chú là những thầy lang có tiếng trong vùng.

Tuổi 15, cậu thanh niên Hà Văn Cầu đã thông thạo: nho, y, lý, số... và với nền tảng kiến thức phong phú đó ông đã sưu tầm, nghiên cứu và chủ biên nhiều tập sách, nhiều công trình nghiên cứu có giá trị đối với nghệ thuật hát chèo truyền thống của dân tộc, đó là: Hề chèo chọn lọc, Tìm hiểu phương pháp viết chèo, Tấu chèo và tấu thơ, Tuyển tập chèo cổ, Mấy vấn đề trong kịch bản chèo cổ, Bình diện kỹ thuật trong diễn xuất chèo. Và ông cũng là tác giả của hàng trăm vở chèo, trong đó có các vở (được ông tâm đắc nhất): Sang sông, Người công dân số một, Bài ca chính khí, Lót đường kéo pháo, Từ Thức ...

Tìm đến ngôi nhà nhỏ của nhà “chèo học” Hà Văn Cầu tại đường Thanh Bảo, chúng tôi được chứng kiến một buổi hướng dẫn nghiên cứu của giáo sư.

Bằng chất giọng truyền cảm, ấm áp, ông vẫn có thể hát minh họa cho các nghiên cứu sinh nghe các trích đoạn chèo để làm rõ thêm một vấn đề nào đó.

Người nhà ông cho biết, hàng ngày vẫn có nhiều sinh viên tìm đến để xin giáo sư hướng dẫn làm luận văn.

Ở độ tuổi 77, nhưng giáo sư vẫn rất bận rộn với công việc. Mới đây, ông vừa hoàn thành phác thảo cuốn “Lịch sử nghệ thuật hát chèo trong thế kỷ 20”, và hiện nay ông đang bắt tay vào làm công trình nghiên cứu cấp Bộ với đề tài “Kịch bản chèo xưa và nay”.

Giáo sư Hà Văn Cầu cho biết: “Đây sẽ là một công trình lớn (khoảng 400 trang sách), gói toàn bộ kiến thức từ xưa đến nay của tôi trong đó có đề cập tới những vấn đề như “Căn tính cơ bản của chèo xưa và nay”, “Bàn về những yêu cầu của kịch bản chèo”, “Tính chuyên nghiệp trong chèo hiện đại”... Tuy nhiên trong quá trình thực hiện công trình này, tôi thấy vẫn còn rất nhiều vấn đề cần bàn tới, do đó công trình sẽ còn được bổ sung”.

Trong “Kịch bản nghệ thuật hát chèo xưa và nay” của GS Hà Văn Cầu có đoạn viết “Chèo xưa hình thành, phát triển và tiến hóa trên các tính chất căn bản hằng định (gọi tắt là căn tính) sau đây: Nông nghiệp-làng xã-nghiệp dư và Công nghiệp-đô thị-chuyên nghiệp...”.

Trong đó, “căn tính” Nông nghiệp-làng xã-nghiệp dư thuộc về các kịch bản chèo được viết trước Cách mạng Tháng Tám, với những đặc điểm như: tín ngưỡng đa thần, tính cộng đồng trong lao động sản xuất, coi trọng nề nếp đã được xác lập, nền kinh tế tự cấp tự túc. Tất cả đã tạo ra sự “ổn định trong tư duy, ứng xử nhưng cũng tạo ra sức ỳ, níu kéo con người giậm chân tại chỗ. Các kịch bản chèo được viết sau Cách mạng Tháng Tám với “căn tính” Công nghiệp-đô thị-chuyên nghiệp, có các đặc điểm: con người tin vào sức mạnh của trí tuệ, tính chuyên môn cao, đời sống xã hội phát triển, giao lưu văn hóa dễ dàng... đều đã dội vào kịch bản chèo, dù là sáng tác về đề tài cổ đại hay thần thoại.

Giáo sư Hà Văn Cầu đưa cho tôi xem những bản chép tay, tất cả đều được chép bằng tiếng Pháp, ông kể: “Ngày mới tiếp quản Thủ đô, tôi làm việc tại ban nghiên cứu sân khấu với nhiều học giả lớn, đó là: cụ Trần Văn Giáp, GS Đào Duy Anh, Nghệ sĩ Lộng Chương, Trần Huyền Trân...

Cụ Giáp có cái ân với tôi là đã cho phép tôi được vào đọc ké trong thư viện quốc gia (lúc bấy giờ thực dân Pháp mới trao trả chính quyền cách mạng, chưa được kiểm kê). Mười năm trời tôi mang cơm nắm vào đọc nhờ sách trong thư viện. Càng nghiên cứu, tôi lại càng khám phá ra nhiều điều mới mẻ, một trong số đó là kịch tính trong chèo.

Kịch tính trong chèo hoàn toàn không giống với sân khấu truyền thống phương Tây, cái mà thường phân tuyến ta-địch, mâu thuẫn, hay nhân vật điển hình. Thí dụ trong vở Lưu Bình-Dương Lễ đâu là "địch", đâu là "ta", đâu là mâu thuẫn?... Hoàn toàn không có. Vậy sao lại có sức hấp dẫn đến vậy? Cái hấp dẫn ở chèo là đánh trúng trái tim non yếu của nhân vật.

Nói đến đây GS Hà Văn Cầu lấy ra tập kịch bản của vở chèo Lưu Bình-Dương Lễ . Cụ minh họa bằng đoạn Dương Lễ cậy nhờ ba người vợ của mình xem có ai đi nuôi người bạn. Cả ba cùng từ chối vì chuyện sợ nam nữ chung nhà. Dương Lễ phải dùng lời lẽ thuyết phục. Cuối cùng nàng Châu Long là vợ ba nguyện đi theo nuôi bạn. Người vợ cả thì lại lo lắng cho Châu Long: “Em hỡi, em dốc lòng đi nuôi bạn/ Việc nên nghe em sẽ nên nghe/ Cớ làm sao nhật nguyệt éo le/ Em nuôi bạn biết bao giờ bạn khá/ Số quan bạn còn đang vất vả/ Một, hai năm ba, bốn, năm năm/ Thì em đem răng long tóc bạc về nhà/ Hay là em sống chung cùng bạn...”.

GS Hà Văn Cầu vuốt râu, cười lý thú, ông nói: “Thời phong kiến, năm năm mới có một khoa thi, nếu Lưu Bình thi dăm lần không đỗ, Châu Long sẽ uổng phí tuổi xuân. Đó là nỗi day dứt trong lòng Châu Long, mâu thuẫn ngay trong lòng. Đó là trái tim non yếu của nàng mà bị bà vợ cả đánh trúng”.

Gần đây trong một cuộc hội thảo về nghệ thuật chèo, GS Hà Văn Cầu đã có một bài tham luận với tiêu đề “Nghệ thuật Chèo trước vận hội mới”. Trong đó ông có nói về những điểm đáng mừng và đáng lo của chèo.

Ông cảnh báo với các nhà quản lý trước việc chúng ta đang đi vào lối mòn với việc xây dựng tràn lan các trích đoạn chèo cũ. Ông tâm sự: “Tôi cho rằng việc tập trung diễn các vở chèo cổ là việc nên làm. Tuy nhiên vẫn cần có những sáng tác mới, có vậy mới giúp chèo phát triển được. Bởi chèo cổ thường khắc họa những nhân vật, những tính cách đã đi vào nề nếp, khuôn mẫu. Nhiều tính cách chèo đã bị lạc hậu. Do đó cần phải khuyến khích các tác giả viết các kịch bản mới, chứ không nên khuyến khích họ diễn lại các vở cổ. Đến đây tôi muốn nói thêm về vấn đề đào tạo của ta. Hiện nay vẫn thường có nhiều lớp đào tạo, bồi dưỡng sáng tác. Nhưng đa số các học viên này khi về cơ sở thì không viết được kịch bản. Tôi còn nhớ cố đạo diễn Tào Mạt, ông đã nói với tôi một câu rất thâm thúy: “Ông đào tạo ra bao nhiêu tác giả, nhưng kết cục chỉ có mỗi ông là tác thật”. Điều này xuất phát từ thực tế là các tác giả của các địa phương sau khi đi bồi dưỡng nghiệp vụ về không viết nổi kịch bản, họ lại tìm đến nhờ tôi viết kịch bản. Tôi cảm thấy rất có lỗi trong việc này vì đã không làm tròn phận sự của một người đào tạo.

Nói đến đây, GS Hà Văn Cầu tỏ ra buồn buồn. Tôi không nỡ hỏi tiếp chuyện buồn của ông, nên tìm cách xoay chủ đề sang hướng khác. Tôi nhìn lên bức thư họa trầm trồ khen ngợi: “Chữ nghĩa thật bay bướm, mà lại phóng khoáng. Không biết cụ mua bức thư họa này ở đâu đấy ạ?”. Ông vuốt vuốt chòm râu đã bạc trắng, cười: “Đó là của cụ Lê Xuân Hòa gửi tặng”. Tôi lau chau tranh lời: “Con nhìn như có chữ Sĩ, chữ Cao... rồi chữ gì nữa đây ạ?”. Cụ từ từ giảng giải: “Ấy là cụ Hòa cứ quá lời chứ tôi đâu dám nhận. Các chữ này nghĩa là Xuất môn vô tục sĩ. Nhập thất hữu cao hiền. Cụ biết đến tôi ở nghề thuốc. Chả là tôi vẫn bốc thuốc nam mà. Tôi còn cái lỗi là chưa được gặp mặt cụ Lê Xuân Hòa”. Rồi ông nói như nhắc nhở cho mình: “Tết này phải đến tạ tội với cụ mới được...”.

Có thể bạn quan tâm