NSND Ðào Mộng Long gọi đó là cuộc "đổi đời", chẳng những đã đem lại sự hồi sinh cho nền nghệ thuật sân khấu, còn trả lại vị trí xứng đáng cho những người nghệ sĩ biểu diễn.
Những ký ức không thể mờ phai
NSND Song Kim trong cuốn hồi ký Những chặng đường sân khấu viết: "Tôi nghe như có luồng gió mới thổi ào ạt trong lòng mình. Tôi không hiểu hết được hai chữ "Cách mạng" chỉ biết rằng từ đây chấm dứt cuộc đời cũ, chấm dứt những đắng cay, tủi nhục, sợ hãi...
Ðông đủ anh chị em đang ở rạp Gô Mông để chào đón ngày lịch sử vẻ vang, sự thành công của Cách mạng. Chúng tôi nghiêm trang nghe anh Nguyễn Xuân Khoát phổ biến bài Tiến quân ca, hăng hái bàn nhau chuẩn bị một chương trình biểu diễn đặc sắc phục vụ ngày vui trọng đại của dân tộc".
Nhóm kịch Thế Lữ đã gấp rút bổ sung một cảnh: Ðoàn nghệ sĩ lang thang đón tin Tổng khởi nghĩa thành công, đón chào lá cờ đỏ sao vàng của Cách mạng. Họ đã diễn hình ảnh của chính họ buổi sớm hôm đó.
Trong niềm phấn khởi chung, các nghệ nhân chèo, tuồng tìm họp nhau, nhen nhóm hoạt động lại các phường, hội cũ để góp phần biểu diễn chào mừng ngày hội giải phóng.
Nổi lên hơn cả là mấy phường của Hai Sinh, Trùm Mược, Lý Mầm, Trùm Dương... hoặc các phường làng Tầm, phường Khuốc, phường Tiên Lữ... với một số tiết mục ngắn, hoạt cảnh như Lên đường giết giặc, Chui qua cổng mù, Bà chúa phải gai. Một số gánh Tốn Xuân Ðài của Quang Tốn và Bạch Trà, Thịnh Lạc của Trùm Thịnh, Quảng Tàm của Hoa Tâm đã bứt khỏi hoạt động mang tính tự phát để hoạt động nghệ thuật chuyên nghiệp với những tiết mục như: Trương Viên Kiều du xuân, Phạm Công Cúc Hoa, Tuần Ty Ðào Huế, Vân dại, Quan Âm, Quá chơi nên nỗi...
Sau Cách mạng Tháng Tám, một số đoàn kịch có từ trước vẫn tiếp tục được duy trì như Ðoàn kịch Anh Vũ của Võ Ðức Diên và Thế Lữ, Ban kịch Hà Nội do Chu Ngọc và một số nghệ sĩ thành lập...
Kháng chiến toàn quốc bùng nổ, nhiều đoàn văn công ra đời. Ở miền bắc có Ðoàn sân khấu Việt Nam thành lập ở Phú Thọ gồm Thế Lữ, Phạm Văn Khoa, Song Kim, Thùy Chi...
Tháng 4-1949, cả đoàn nhập ngũ và trở thành Ðoàn kịch Chiến Thắng. Ở khu IV có những nghệ sĩ từ Hà Nội vào, từ Huế ra như: Chu Ngọc, Ðào Mộng Long, Trúc Quỳnh, Bửu Tiến... Và có Ðoàn Cải lương khu IV (tiền thân của NH Cải lương trung ương). Liên khu V cũng có đoàn kịch diễn các vở của Lê Ngọc Cầu, Nguyễn Hoài, ngoài ra còn có các đoàn hát bội gồm các nghệ sĩ: Ngô Thị Liễu, Nguyễn Nho Túy, Nguyễn Lai do Hội Văn nghệ Liên khu quản lý.
Một nền sân khấu lớn mạnh
Nhận biết về sứ mệnh của mình trước đất nước, các nghệ sĩ sân khấu đã dựng lên những hình tượng con người mới, người lao động, chiến sĩ cách mạng trong hàng loạt những vở kịch ra mắt ngay sau Cách mạng Tháng Tám như Tô Hiệu (Nguyễn Công Mỹ), Vượt ngục (Nguyễn Văn Niêm), 19 tháng 8 (Thâm Tâm), Cà Sa giết giặc (Học Phi), Bắc Sơn (Nguyễn Huy Tưởng). Ðặc biệt vở Bắc Sơn đã được nhìn nhận như một tác phẩm tiêu biểu sớm nhất của kịch nói cách mạng.
Các vở diễn này đã thật sự hình thành nền kịch cách mạng Việt Nam hiện đại. Con người mới, con người của lý tưởng độc lập, tự do đã là hình tượng trung tâm của kịch Việt Nam suốt các thời kỳ chống thực dân Pháp, chống Mỹ, cứu nước cho tới hôm nay.
So với các loại hình sân khấu kịch hát, kịch nói có thuận lợi hơn, đặc biệt thể loại kịch ngắn với một - hai hồi rất phát triển, kịp thời phục vụ quân dân, hướng phản ánh vào hầu hết các mặt của cuộc chiến đấu, ở hậu phương cũng như tiền tuyến. Hàng loạt vở như: Tay người đàn bà, Giác ngộ, Bên kia sông Ðuống, Trở về, Giữa vòng vây, Lý Thới, Cái võng... đã ra đời. Tuy chất lượng chưa cao, nhưng cũng đã sưởi ấm sân khấu, khích lệ tinh thần chiến đấu, sản xuất của đồng bào khắp mọi miền đất nước.
Trước Cách mạng, nghệ thuật tuồng, chèo rất sa sút. Nghệ nhân cũng chung số phận như mọi người, cũng bị cả phong kiến, quan lại, cường hào, thực dân Pháp, phát-xít Nhật bóc lột, áp bức điêu đứng. Năm 1945, thêm nạn đói cướp đi số phận hàng triệu con người.
Tháng 12-1946, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp nổ ra trong phạm vi cả nước, đội ngũ nghệ nhân tuồng, chèo lại thêm một lần bị chia sẻ. Tới năm 1950, sau nhiều hội nghị tranh luận về sân khấu truyền thống, Ðảng và Nhà nước đã khẳng định tuồng, chèo, cải lương... là di sản văn hóa dân tộc, cần khai thác vốn cổ để xây dựng một nền văn nghệ mới.
Chủ trương của Ðảng đã thật sự làm hồi sinh các bộ môn sân khấu chèo, tuồng, bài chòi, cải lương... Các nghệ sĩ đã quy tụ về các đoàn, thực hiện lời dạy của Bác Hồ: Nghệ sĩ cũng là chiến sĩ trên mặt trận văn hóa.
Ðoàn tuồng do Khu ủy Khu V thành lập đã thu hút nhiều nghệ sĩ tài năng: Ngô Thị Liễu, Nguyễn Nho Túy, Nguyễn Lai, Văn Phước Khôi... do Hoàng Châu Ký, Thường vụ Chi hội Văn nghệ khu V phụ trách Trưởng đoàn. Ðoàn lập tức phục hồi công diễn, tuồng Tam nữ đồ vương được quần chúng đón nhận hồ hởi. Ðược đà, đoàn tiếp tục dựng vở lịch sử Trưng nữ Vương, Ðường về Vụ Quang của Hoàng Châu Ký, đặc biệt vở Chị Ngộ của Nguyễn Lai đã gây hiệu quả lớn với quần chúng. Vở diễn mang đậm chất bi hùng của tuồng, khiến người xem cảm phục tinh thần hy sinh yêu nước của chị Ngộ và những người thân thuộc của chị đồng thời vô cùng căm giận quân xâm lược Pháp và tay sai của chúng.
Năm 1952, Nhà nước quyết định thành lập Ðoàn Văn công nhân dân Trung ương do đồng chí Tố Hữu làm trưởng đoàn, đồng chí Hoài Thanh làm phó đoàn. Trong đó có đội chèo do nghệ sĩ Năm Ngũ và gia đình ông làm hạt nhân. Tiếp đó một loạt các đơn vị nghệ thuật được thành lập như Ðoàn văn công Tổng cục Chính trị, Ðoàn văn công cải cách ruộng đất, Ðoàn Ca kịch dân doanh Quyết Tiến...
Các đơn vị trên đều lần lượt phục hồi nhiều trích đoạn chèo: Thị Mầu lên chùa, Xúy Vân giả dại, nhiều lớp Hề gậy, Phù thủy, Thầy bói... đem diễn phục vụ trong căn cứ địa kháng chiến của trung ương, phục vụ bộ đội, dân công, và đông đảo nhân dân. Ðồng thời sáng tác nhiều vở chèo mới, phục vụ kháng chiến chống thực dân Pháp, phục vụ cuộc phát động giảm tô, cải cách ruộng đất. Nhiều vở không chỉ do nghệ sĩ sáng tác, cả quần chúng không chuyên thuộc nhiều tầng lớp cũng tự biên, tự diễn.
Ðáng chú ý là hai vở chèo Chị Trầm và Chị Tấm, anh Ðiền là sáng tác tập thể của lực lượng chuyên nghiệp được công diễn những năm 1953-1954 như những công trình nghệ thuật được trau chuốt công phu, được người xem rất hưởng ứng.
Kết thúc cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi, năm 1954, Ðại hội Liên hoan Văn công đầu tiên được tổ chức. Ðó là đại hội tập hợp đầy đủ các bộ môn, các nghệ sĩ thuộc đủ mọi miền đất nước.
Nhiều vở diễn tại liên hoan đã làm nức lòng người xem và mở đầu giai đoạn mới của nghệ thuật sân khấu cách mạng, với đội ngũ nghệ sĩ đông đảo, vững mạnh, tiếp tục tạo dựng nền nghệ thuật mới, nở rộ nhiều tác phẩm, khẳng định một thời kỳ phát triển rực rỡ của sân khấu, góp phần tích cực vào thành quả chung của công cuộc chống giặc, xây dựng đất nước thắng lợi.
Tinh thần yêu nước, tinh thần chiến đấu đồng cam cộng khổ cùng đồng bào và chiến sĩ trong chiến tranh, ý thức làm chủ và nhiệt tình say mê xây dựng sự nghiệp sân khấu mới của đông đảo anh chị em nghệ sĩ sân khấu là động lực thúc đẩy giới sân khấu vượt qua những điều kiện khó khăn, gian khổ, hoàn thành nhiệm vụ người nghệ sĩ - chiến sĩ.