Đất đỏ nuôi dưỡng cuộc sống
Theo các nhà địa chất, Chư Đăng Ya từng phun trào hàng triệu năm trước, để lại lớp đất bazan màu mỡ, giàu khoáng chất, thích hợp cho nông nghiệp. Người dân quanh núi tận dụng để trồng khoai lang, bắp, bí đỏ… nhưng luôn tuân thủ quy tắc giữ đất: không cày sâu, không đốt rẫy, để đất nghỉ sau mỗi vụ.
Anh Rơ Mah H’Binh (làng Ia Gri) kể: “Đất này khô cằn mùa khô, nhưng khi có mưa thì cây gì cũng tốt. Khoai ngọt, bí to, nhưng phải biết giữ đất, không được tham quá”. Dù thiên tai thường xuyên đe dọa, bà con vẫn bám đất, bám làng, coi đây là nơi gắn bó máu thịt.
Cuộc sống quanh núi vẫn giữ nhiều nét truyền thống: nhà sàn, bếp củi đỏ lửa, tiếng cồng chiêng ngân vang mỗi dịp lễ hội. Trẻ em theo cha mẹ lên rẫy, học cách trồng cây, giữ đất. Chợ phiên dưới chân núi mỗi tuần là nơi khoai lang tím Chư Đăng Ya trở thành niềm tự hào, vừa là cây trồng vừa là thương hiệu kinh tế, minh chứng cho sức sống bền bỉ của vùng đất này.
Người Gia Rai coi Chư Đăng Ya là núi linh thiêng, từng là nơi cúng thần lửa, thần đất để cầu mùa màng. Trẻ con được dạy không la hét khi lên núi, không hái hoa dã quỳ bừa bãi, không ngủ lại trên đỉnh. Bà H’Lơi (làng Ia Gri) nhớ lại: “Ngày xưa chưa có đường nhựa, chưa có khách du lịch. Núi là nơi của làng. Mỗi mùa mưa, người ta lên núi cúng, mang theo ché rượu cần, thịt nướng và lời khấn”.
Ngày nay, Chư Đăng Ya đã trở thành điểm đến du lịch nổi tiếng. Lên đỉnh núi vào buổi sáng sớm, du khách có thể ngắm toàn cảnh Chư Păh với rẫy cà phê xanh mướt, mái nhà bạc màu, con đường uốn lượn. Mỗi tháng 11, khi hoa dã quỳ nở rộ, nơi đây khoác lên mình tấm áo vàng rực rỡ, thu hút hàng ngàn du khách.
Du lịch cộng đồng-cơ hội và thách thức
Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Gia Lai Nguyễn Thị Thanh Lịch cho biết, tỉnh đã giao Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch xây dựng chương trình Ngày hội hoa dã quỳ, quảng bá sản phẩm OCOP, đặc sản địa phương để thu hút khách. Chính quyền cũng đầu tư lối đi bộ, biển hướng dẫn, đội tình nguyện thu gom rác, đề án phát triển du lịch cộng đồng, hỗ trợ đào tạo kỹ năng, kết nối tour liên vùng.
Một số hộ dân đã mở homestay, bán đặc sản như khoai lang nướng, mật ong rừng, rượu cần. Thanh niên làm hướng dẫn viên, kể chuyện về núi lửa, lễ hội mừng lúa mới. Tuy nhiên, thách thức vẫn còn: đường mòn xói lở, rác thải sau lễ hội, hoa bị hái quá tay, hạ tầng lưu trú thiếu, nhân lực du lịch chưa chuyên nghiệp. Đáng lo hơn là nguy cơ thương mại hóa văn hóa bản địa, biến lễ hội, nhà rông thành “phông nền” cho du khách, làm mất đi chiều sâu văn hóa vốn có.
Để Chư Đăng Ya trở thành điểm đến bền vững, cần một chiến lược phát triển hài hòa, vừa khai thác du lịch vừa bảo tồn văn hóa. Người dân phải là chủ thể làm du lịch, đồng thời gìn giữ di sản của dân tộc mình. Điều này đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa chính quyền, doanh nghiệp và cộng đồng địa phương. Chính quyền cần xây dựng quy hoạch tổng thể, đầu tư hạ tầng giao thông, dịch vụ lưu trú, đồng thời ban hành các quy định bảo vệ cảnh quan và môi trường sinh thái. Doanh nghiệp có thể tham gia bằng cách hỗ trợ vốn, kết nối thị trường, nhưng phải tôn trọng bản sắc văn hóa bản địa. Người dân địa phương vừa là người kể chuyện, vừa là người giữ gìn phong tục, lễ hội, kiến trúc truyền thống, để du khách không chỉ đến ngắm cảnh mà còn được trải nghiệm đời sống văn hóa nguyên bản.
Dưới chân ngọn núi lửa đã ngủ yên, cuộc sống của người Jrai, Ba Na vẫn tiếp tục qua những củ khoai lang tím ngọt lịm, tiếng chiêng ngân vang, câu chuyện kể bên bếp lửa. Như lời bà H’Lơi: “Núi vẫn là núi của làng thôi”. Sức sống Chư Đăng Ya không nằm trong lòng đất từng cháy đỏ, mà trong trái tim những con người kiên cường, gắn bó với núi như một phần máu thịt.