35 năm chiến thắng "Điện Biên Phủ trên không" (1972 - 2007)

Biện pháp chiến lược quân sự cuối cùng của Nixon phá sản hoàn toàn

Quân và dân Hà Nội vừa dũng cảm kiên cường, vừa thông minh sáng tạo đã giáng cho Không quân chiến lược Mỹ một đòn chí tử, lập nên kỳ tích "Ðiện Biên Phủ trên không", góp phần trực tiếp kết thúc cuộc chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam.

Ba biện pháp chiến lược

Cuộc chiến tranh ác liệt bằng không quân dưới thời Johnson (1964-1967) đã không thu được kết quả theo ý muốn. Thắng lợi của cuộc tổng tiến công chiến lược Tết Mậu Thân 1968 đã buộc Johnson phải đề nghị đàm phán với Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Ngày 1-11-1968, Mỹ phải chịu ngừng ném bom không điều kiện miền bắc Việt Nam. Tiếp đến Hội nghị bốn bên được tiến hành để tìm giải pháp chấm dứt cuộc chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam. Nó làm phá sản ý đồ của giới cầm quyền Mỹ đã tính toán dùng tối đa sức mạnh của lực lượng không quân hiện đại Mỹ.

Thế nhưng khi Johnson đổ, Nixon lên cầm quyền liên tiếp hai nhiệm kỳ thì lại điên cuồng thực hiện ý đồ này. Nixon quyết định dùng lực lượng không quân thực hiện ba nhiệm vụ chiến lược: Ðánh thẳng vào đầu não lãnh đạo của cộng sản là Trung ương cục miền nam. Ðập nát cơ quan lãnh đạo cộng sản ở Hà Nội. Ðánh vào nguồn nhân lực và phong tỏa toàn bộ nơi xuất phát của các tuyến tiếp tế cho cộng sản, kể cả việc mở rộng chiến tranh sang Lào và Cam-pu-chia. Ðặc biệt là biện pháp đánh thẳng tiêu diệt cơ quan lãnh đạo tối cao cộng sản tại Hà Nội.

Chiến dịch mang bí danh LinebacKer II

Năm 1972 có những sự kiện lớn liên quan đến cuộc chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam. Cuộc tiến công quy mô của quân giải phóng ở miền nam. Ðiểm nóng nhất, ác liệt nhất là Quảng Trị. "Kế hoạch Phượng Hoàng" của CIA Mỹ thất bại ở miền nam. Nhà Trắng (Mỹ) lung lay cùng với uy tín của Nixon giảm sút bởi vụ Watergate. Ðảng dân chủ đối lập kiểm soát cả Thượng viện lẫn Hạ viện và muốn chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam.

Tại Paris, Hội nghị về Việt Nam đã đạt được thỏa thuận về một Hiệp định dự kiến sẽ ký vào ngày 30-10-1973. Ngoại trưởng Mỹ Henry Kissinger tuyên bố "Hòa bình đã ở trong tầm tay". Tổng thống Ngụy Nguyễn Văn Thiệu phản đối quyết liệt bản dự thảo Hiệp định. Ở Mỹ cuộc bầu cử Tổng thống diễn ra ngày 5-11-1972, Nixon tái trúng cử. Việc rút dần quân Mỹ ra khỏi nam Việt Nam là việc không thể dừng.

Nixon ở vào thế bất lợi, không thể không kết thúc chiến tranh. Nhưng kết thúc chiến tranh bằng biện pháp chiến lược quân sự mạnh, đánh thẳng vào đầu não lãnh đạo tối cao cộng sản Hà Nội, buộc Hà Nội phải nhân nhượng trước yêu sách của Mỹ. Ðồng thời cũng là đòn răn đe để khi ký Hiệp định. Như vậy Hà Nội sẽ không thể vi phạm. Và nếu có vi phạm thì Nixon sẽ tiếp tục giáng những đòn trả đũa đích đáng.

Theo lệnh của Nixon, H.Kissinger chuyển cho phía Việt Nam (ông Lê Ðức Thọ nhận) bản đề nghị sửa đổi của Nguyễn Văn Thiệu gồm 69 điều, thực chất là thay đổi cơ bản Hiệp định Paris về Việt Nam.

Ngày 15-12-1972, Nixon gửi tối hậu thư cho Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đòi phải trả lời trong 72 giờ (nhưng thực tế thư này Chính phủ ta chỉ nhận được ngày 18-12-1972, vài giờ trước khi B52 của Mỹ ném bom Hà Nội và Hải Phòng).

Cũng ngày 15-12-1972 Nixon giao nhiệm vụ cho Ðô đốc Thô-mát Mo-rơ, Chủ tịch, Tham mưu trưởng Liên quân, chuẩn bị tiến công quy mô lớn vào các mục tiêu không hạn chế ở Hà Nội và Hải Phòng. Chỉ thị của Nixon ghi rõ: "Ðây là cơ hội có một không hai để ông dùng sức mạnh quân sự đánh thắng cuộc chiến tranh này. Nếu không sẽ phải hoàn toàn chịu trách nhiệm".

Nixon cho huy động 200 máy bay B52 và 3/4 số phi công B52 thuộc Bộ chỉ huy không quân chiến lược thực hiện chiến dịch mang bí danh LINEBACKER II đánh thẳng vào Hà Nội, Hải Phòng từ ngày 18 đến ngày 30-12-1972. Máy bay B52 được điều động từ Guam và Utapao. Ðó là loại B52 D kiểu cũ, còn ở căn cứ tại Mỹ là loại B52 G và H. Phi công phải học chuyển đổi tay lái sang loại khác rất khẩn trương trong hai tuần lễ. Nhiều phi công phải học bằng cách tra tài liệu kỹ thuật ngay trên đường bay đi đánh phá các mục tiêu.

Các chỉ huy quân sự Mỹ đánh giá Hà Nội có hệ thống phòng không mạnh nhất thế giới lúc đó, gồm 850 bệ phóng tên lửa SAM, nhiều loại pháo cao xạ bắn bằng thiết bị ra-đa. Họ tin rằng với 17 máy nhiễu trên mỗi chiếc B52 thì thừa sức cản phá làm "mù mắt" tất cả các loại ra-đa Liên Xô (trước đây) trang bị cho Việt Nam, nên chắc chắn là tên lửa SAM Liên Xô (trước đây) không hạ nổi B52. Nhưng thực tế lại khác. Mỹ bị choáng váng khi ngay đêm đầu tiên (18-12) nhiều B52 đã bị hạ. Ðêm thứ hai, một tốp ba chiếc B52 bị một loạt tên lửa bắn hạ.

Bao nhiêu B52 bị rơi trong 12 ngày đêm là vấn đề tranh cãi ở Mỹ. Theo Việt Nam thì có 34 chiếc rơi trên đất Việt Nam, nhiều chiếc khác rơi ngoài biển hoặc nơi khác thuộc Ðông-Nam Á hoặc bị thương nặng, về đến căn cứ nhưng không thể hoạt động trở lại được. Có một số bằng chứng ủng hộ con số của Việt Nam đưa ra. Báo Sao và Vạch của quân đội Mỹ ở Thái Bình Dương ngày 19-12-1972 đã công bố những bức ảnh B52 Mỹ bị thương bay về rơi ở Utapao và theo một nhà sử học của Không quân Mỹ thì sau khi bị thiệt hại nặng trong mấy đêm đầu cuộc tiến công, tại Bộ chỉ huy không quân chiến lược ở Omaha bang Nebraska đã diễn ra một cuộc tranh luận kéo dài khá gay gắt, những từ ngữ dùng nhiều là "ngừng ngay sự tàn sát" (stop the carnage) - chúng ta không để mất thêm B52 nữa - "thực sự là một cuộc tắm máu" (blood bath). Tư lệnh không quân chiến lược là tướng Meyer vẫn quyết định là "cứ tiếp tục". Nhưng một số nhà lãnh đạo cuộc chiến tranh gây áp lực với Nixon đòi ngừng ngay việc dùng B52 ném bom Hà Nội và Hải Phòng (để tránh thiệt hại quá nặng).

Trung Quốc và Liên Xô (trước đây) công bố công khai là sẽ không có hòa hoãn nếu Mỹ không ngừng ném bom. Ða số các nước Tây Âu tố cáo cuộc ném bom, ngay đức Giáo Hoàng ở Va-ti-căng cũng lên án hành động ném bom man rợ này của Mỹ. Các hạ nghị sĩ Mỹ định dùng luật để kết thúc chiến ranh. Nixon buộc phải tuyên bố chấm dứt ném bom ngày 30-12-1972 và thông báo là tiếp tục cuộc đàm phán với Hà Nội. Mỹ phải rút những điều xét lại mà Nguyễn Văn Thiệu đòi trước đây. Hiệp định Paris được ký kết ngày 27-1-1973 cơ bản như dự thảo hồi tháng 10-1972.

B52 phơi xác trên đường phố Hoàng Hoa Thám, Hà Nội.

Sự thật từ lời thú tội của phi công B52 Mỹ trong "khách sạn Hilton Hà Nội"

Sự thất bại của chiến dịch LINEBACKER II còn dẫn tới việc nhiều phi công B52 bị chết và bị bắt sống. Nhiều "giặc lái" B52 đã phải vào trại giam ở Hà Nội. "Giặc lái" B52 bị bắt giam đã gọi hài hước đó là "Khách sạn Hiltơ Hà Nội". Những phi công B52 này lúc đầu còn e dè, sợ hãi. Nhưng, chế độ nhân đạo của ta đã cảm hóa được họ. Họ đã khai cụ thể những điều đã làm, những khủng khiếp họ phải trải qua khi ném bom Hà Nội, Hải Phòng. Do nhiệm vụ chúng tôi đã gặp gỡ trực tiếp họ trong trại giam. Và những điều ghi lại dưới đây là sự thật về tâm trạng của họ...

Kíp lái máy bay B52 ném bom Bệnh viện Bạch Mai ngày 22-12-1972 bị bắt trọn gói gồm: Trung tá Hari Yuin (lái chính và chỉ huy). Trung tá William Colli (sĩ quan điện tử). Trung tá Luis Bernasconi (hoa tiêu ra-đa). Ðại úy David Drammern (lái phụ). Trung úy William Mayon (hoa tiêu). Thượng sĩ Gari Moorgern (xạ thủ súng máy).

Họ thuộc Phi đoàn ném bom chiến lược 307, ở căn cứ Utapao, Thái-lan. Không phải kíp lái B52 nào cũng có đến ba cấp trung tá là những sĩ quan lâu năm trong nghề và dày dạn kinh nghiệm như kíp này. Chẳng hạn như Yuin hay Colli đều có trên 3.000 giờ bay với B52. Riêng Yuin đã ở trong nghề 20 năm, lái đủ các loại máy bay, với khoảng 5.500 giờ bay, đã từng là huấn luyện viên.

Colli thì đang dạy ở Trường đại học Hàng không, vì thiếu người nên được cử đi lái B52, y mới từ Guam đến Utapao chưa được một tháng. Ðây là phi vụ đầu tiên của y vào Hà Nội nhưng mới chỉ thực hiện được một nửa.

Hari Yuni kể lại: "Chúng tôi xuất phát từ Utapao lúc 1 giờ 30 phút sáng 22-12. Khi đến gần mục tiêu, tôi trông thấy hai tên lửa SAM ở ngay trước mũi máy bay. Tên lửa đầu tiên trúng máy bay và làm máy bay nhào đi... Người ta nói với chúng tôi rằng tất cả các mục tiêu đều là mục tiêu quân sự. Nhưng chiều ngày 29-12 tôi đã được nhìn tận mắt ba vùng bị đánh phá đó là một bệnh viện, một khu phố và một trường học. Tôi cảm thấy rất kinh tởm, và rất buồn vì đã tham gia vào công việc đáng hổ thẹn này".

William Colli nói thêm: "Sau khi bị bắt, tôi đã được tìm hiểu về lịch sử Việt Nam. Tôi được biết thêm về lòng quyết tâm và ý thức dân tộc rất cao của nhân dân Việt Nam. Tôi cho rằng lịch sử và đạo lý thuộc về các ông và các ông sẽ chiến thắng. Chúng tôi cảm thấy rất may mắn đã bị bắt và được đối xử rất nhân đạo...".

Quả thật họ vô cùng may mắn là kíp lái B52 duy nhất còn nguyên vẹn đi vào trại giam. Và các phi công Mỹ bị bắt nói đó là ngày "Cửa tử" đối với họ và là ngày vinh quang đối với Việt Nam. Họ còn khai thêm: Ngày 14-12-1972 Nixon đã ra lệnh thả thủy lôi phong tỏa cảng Hải Phòng, dùng máy bay không người lái trinh sát toàn miền bắc nước ta và chính thức thông qua kế hoạch tập kích chiến lược bằng B52 vào Hà Nội bắt đầu từ ngày 17-12 (giờ Hà Nội là ngày 18-12-1972).

Mỹ đã huy động gần 200 máy bay B52 các loại với 250 tổ bay gần bằng 50% lực lượng không quân chiến lược của cả nước Mỹ. 50 chiếc B52 được bố trí ở căn cứ Utapao (Thái-lan), còn lại B52 thế hệ mới tập kết ở Andersen (Guam).Hai đại đội F111A có 48 chiếc ở sân bay Tắc-li (Thái-lan). 999 máy bay chiến thuật khác ở Tắc-li và các sân bay ở miền nam Việt Nam được huy động.

Cứ theo lời khai của chính những phi công tham gia khi bị bắt sống thì ở Utapao hôm 18-12-1972 có ít nhất 40 chiếc B52 cất cánh. Ở cả hai căn cứ này, cảnh tượng hằng ngày là cứ cách 5 phút có một B52 cất cánh, liên tục trong mấy giờ liền.

R.Johnson, thiếu tá hoa tiêu ra-đa B52 ở căn cứ Andersen bị bắt đêm 18-12-1972 nói: "Cho đến 16-12-1972 không khí ở đây rất phấn khởi vì mọi người đều hy vọng hòa bình sắp đến nơi. Nhưng sang ngày 17 có những dấu hiệu khác thường và đến ngày 18 khi lên phòng họp nghe phổ biến nhiệm vụ, thấy bản đồ Hà Nội có đánh dấu các mục tiêu, chúng tôi ngạc nhiên và lo sợ. Tôi lo chuyến bay này sẽ khó trở về...". Và điều y lo đã trở thành sự thực.

Cùng cảnh ngộ như R.Johnson, Henry Baraw, đại úy hoa tiêu ở Utapao kể: "Chiều 18-12-1972, chúng tôi được gọi đi rất đông đến phòng họp ở chỉ huy sở. Chưa bao giờ có briefing (họp phổ biến nhiệm vụ) đông như thế. Mỗi kíp bay 6 người, hơn 40 kíp bay, ngoài ra còn sĩ quan tham mưu, tất cả đến 250 người. Chúng tôi được lệnh mặc bộ đồ bay. Họp xong đi luôn, không quay về buồng nữa. Trên tường treo bản đồ lớn. Ngồi giữa hàng ghế đầu là tướng Salivan chỉ huy căn cứ. Bên trái là đại tá David chỉ huy phi đoàn 307. Tiếp đến là bốn đại tá nữa của cơ quan tham mưu. Bộ mặt tướng Salivan nghiêm trang khác thường. Các sĩ quan tham mưu lần lượt thuyết trình kế hoạch đợt đánh phá, kế hoạch bay, cất cánh, ném bom, v.v. Một đại tá báo cáo kế hoạch bay đêm, một trung tá khác báo cáo tình hình thời tiết, khí tượng các vùng bay qua, một trung tá khác báo cáo các khu vực bị đe dọa. Còn 20 phút nữa đến giờ cất cánh. Tướng Salivan kết luận ngắn: Ðây là nhiệm vụ rất đặc biệt, rất quan trọng, do Tổng thống Nixon trực tiếp ra lệnh. Ông nói tiếp: Phải cẩn thận, chúng ta bay đêm, được hộ tống tốt, không có gì phải lo ngại. Chúc mọi người về đủ!

Ðại tá David chỉ huy đoàn 307 dặn thêm: "Bám nhau tốt, bình tĩnh, không dùng radio nhiều".

Những ngày sau đó tình hình càng rối ren ở hai căn cứ.

Ðại úy Bin, hoa tiêu B52 ở Andersen, bị bắn rơi đêm 21-12-1972 nói một cách hài hước: "Tinh thần chúng tôi giảm sút rất nhiều vì không biết còn phải bay đến bao giờ. Nhất là khi hỏi chuyện bạn bè đã bay đêm trước, họ đều nói rất nguy hiểm, may mà trở về được. Nhiều người lo sợ rằng biết đâu trong một chuyến bay nào đó, họ sẽ phải bay quá lên đến thiên đàng".

David Drammern, đại úy lái phụ ở Utapao, bị bắn rơi ngày 22-12-1972: "Các lần briefing sau càng căng thẳng, vì ai cũng biết 11 chiếc B52 đã bị bắn rơi trong 4 ngày trước. Ðại tá Davi hỏi: "Các anh xem có cách gì tránh bị trúng đạn không? Không có ai trả lời, kể cả các sĩ quan điện tử".

Còn William Colli, trung tá sĩ quan điện tử ở căn cứ Utapao bị bắt cùng ngày 22-12-1972 thì nói: "Lúc đầu tôi cứ tin tưởng là trang bị của B52 rất hoàn hảo, không thể bị bắn rơi. Nhưng khi chiếc B52 đầu tiên bị bắn rơi, thì tôi mất niềm tin. Người ta nói về trang bị điện tử hiện đại và nhiều tầng bảo vệ của B52. Lúc đó tôi không tin nữa vì tôi không còn là một đứa trẻ con. Khi đến gần mục tiêu, tôi bắt đầu mở máy ra-đa, thấy báo có Míc và tên lửa SAM, tôi báo cáo cho đồng đội, nhưng không biết phải bảo họ quay về hướng nào vì có quá nhiều tín hiệu và tín hiệu rất mạnh".

Thiếu tá Giêm Con-đơn, hoa tiêu ra-đa ở Guam, bị bắt ngày 26-12-1972 cho biết: "Không khí bao trùm căn cứ Andersen nặng nề, căng thẳng. Mọi người lo lắng, không nói to, không cười đùa, không chạm cốc trong ngày Noel. Không khí căng thẳng tăng lên từng ngày".

Còn ở Utapao? Trung úy Rô-bớt Hát-xân, lái phụ, bị bắn rơi cùng ngày 26-12-1972 nói: "Toàn bộ căn cứ Utapao bao trùm không khí nặng nề. Buồn, rất buồn. Những ngày Noel xấu nhất. Không thấy một ai chạm cốc với bạn bè. Người ta chúc nhau gượng gạo, mỉa mai. Tôi cảm thấy không khí chán nản, thậm chí bực dọc đối với lệnh đi ném bom. Chưa bao giờ căn cứ Utapao có không khí khổ sở, thảm hại đến như vậy"...

Có thể bạn quan tâm