Học thất bại của người đi trước
Nghề nuôi tôm nước mặn, lợ với chủ lực là con tôm sú ở Việt Nam khởi động cách nay chỉ hơn chục năm nhưng phát triển đến chóng mặt. Cho đến nay, theo thống kê của Bộ Thủy sản, diện tích nuôi tôm sú trong nước xấp xỉ nửa triệu héc ta, năm ngoái đạt sản lượng 290.000 tấn và đưa Việt Nam trở thành quốc gia có sản lượng tôm nước mặn, lợ đứng thứ ba trên thế giới, sau Trung Quốc và Thái-lan. Con tôm sú đóng góp 40 - 50% kim ngạch xuất khẩu của ngành thủy sản Việt Nam, khoảng một tỷ USD.
Sau một thời gian dài khảo sát thực tế cũng như cộng tác với các nhà khoa học Việt Nam trong nghiên cứu dịch bệnh tôm, Tiến sĩ Chalor Limsuwan, nhà nghiên cứu về bệnh thủy sản ở Đại học Tổng hợp Kasetsart, Thái-lan, đưa ra nhận xét: “Nông dân nuôi tôm Việt Nam giờ đây bắt đầu đi vào nuôi quy mô công nghiệp và cũng gặp những trở ngại như nông dân Thái-lan đã từng gặp 15 năm trước”.
Đặc điểm của phương thức nuôi tôm công nghiệp là mật độ thả nuôi dày đặc, hơn 40 con giống/mét vuông và ngày càng thâm canh cao. Và nhược điểm của cách nuôi này là tôm hay bị bệnh, môi trường nước bị ô nhiễm. Do đó người nuôi tôm Thái-lan phải quay trở lại phương thức nuôi tôm bền vững, không đầu tư ồ ạt, mật độ thả nuôi vừa phải, khoảng 25 con/mét vuông.
Tại hội nghị “Cải tiến kỹ thuật nuôi và dinh dưỡng tôm 2005” vừa diễn tại TP Hồ Chí Minh, do Viện Nghiên cứu nuôi trồng thủy sản II và Công ty Bayer Việt Nam tổ chức, nhiều nhà khoa học quốc tế đến từ nhiều quốc gia đều chia sẻ ý kiến này của Tiến sĩ Limsuwan.
Nuôi tôm bền vững
Cái mà nông dân Việt Nam cần học là cách nuôi tôm bền vững, sạch bệnh, không ô nhiễm môi trường. Giáo sư Claude Boyd đến từ Đại học Auburn, Mỹ, một nhà sinh thái học, cho biết hơn một thập niên qua người nuôi tôm các nước chỉ quan tâm đến công nghệ và kỹ thuật nuôi tôm sao cho đạt năng suất cao nhất, bất chấp các thiệt hại khác, trong khi đó người tiêu dùng lại đặt nặng về tiêu chuẩn dư lượng kháng sinh, hóa chất trong tôm và sản phẩm từ tôm. Mâu thuẫn này chỉ có thể giải quyết bằng việc phát triển nghề nuôi tôm bền vững, không tác động xấu đến môi trường sinh thái.
Ông Boyd dự báo: “Trong thời gian tới, người tiêu dùng không chỉ quan tâm đến dư lượng kháng sinh, mà còn yêu cầu các quốc gia nuôi tôm thực hiện các phương thức nuôi tôm sao cho không được tác động xấu đến môi trường sinh thái như tàn phá rừng ngập mặn, ô nhiễm các bãi cát ven biển”. Ông Daniel Fegan, Chủ tịch chi nhánh châu Á-Thái Bình Dương của Hiệp hội Thủy sản thế giới (World Aquaculture Society) đưa ra lời khuyên, nông dân Việt Nam không nên phát triển đầu tư nuôi tôm công nghiệp quá nhanh bất chấp hệ thống cơ sở hạ tầng chưa đáp ứng kịp nhu cầu như Thái-lan đã từng vướng phải.
Ông Fegan nói: “Nuôi tôm không nhất thiết phải có năng suất cao mới có hiệu quả. Hiệu quả ở đây phải tính đến việc phát triển bền vững, tức là không tốn nhiều chi phí cho xử lý môi trường, không bị dịch bệnh tràn lan, không chặt phá rừng ngập mặn và trách nhiệm phát triển nuôi tôm bền vững phải thuộc về Nhà nước và các hội nghề nghiệp”.
Tiến sĩ Limsuwan cho biết ở Thái-lan, nông dân bắt đầu áp dụng quy trình nuôi tôm “kín”, tức không lấy nước bên ngoài vào, không xả nước thải ra môi trường mà toàn bộ việc xử lý ao tôm diễn ra trong nội bộ trang trại, không hề tác động đến môi trường và dịch bệnh bên ngoài cũng không thể lây lan vào trong ao. Ông khuyên, trong điều kiện Việt Nam hiện nay, nên áp dụng quy trình nuôi “nửa kín”, tức một ao nuôi tôm thì có một ao có diện tích tương tự để dự trữ nước, lắng đọng cặn bã… Ông cho rằng nhiều vùng nuôi tôm ở Việt Nam đã áp dụng quy trình này nhưng còn nửa vời, do người nuôi quá tiết kiệm đất, ham sản lượng tôm nên ao lắng quá nhỏ so với ao nuôi tôm.
Thay đổi cơ cấu nuôi
Việt Nam gần như chỉ nuôi tôm sú và Bộ Thủy sản nhiều lần nhắc đi nhắc lại rằng tôm sú là lợi thế cạnh tranh của Việt Nam, mặc dù tôm thẻ chân trắng đã được du nhập vào Việt Nam gần năm năm qua nhưng gần như chỉ được phép nuôi thử nghiệm. Tuy nhiên, trong hội nghị nói trên, đã có những quan điểm ngược lại với Bộ Thủy sản. Ông Fegan đề nghị Việt Nam nên phát triển song song cả hai loại tôm này để hỗ trợ, bổ sung cho nhau. Ông nói“Nếu chỉ sản xuất một trong hai loại tôm là tôm sú hoặc thẻ chân trắng thì rất dễ gặp rủi ro về giá cả”.
Điểm yếu của tôm thẻ chân trắng là kích cỡ nhỏ, giá bán thấp nhưng lại dễ nuôi, năng suất cao và kích cỡ đồng đều, nguồn tôm bố mẹ được tạo thành từ tôm nuôi thương phẩm, lại được một số thị trường lớn như Mỹ ưa chuộng. Trong khi đó, đối với tôm sú, phải kiếm tôm bố mẹ ở ngoài biển nên giá tôm giống cao, năng suất thấp, kích cỡ không đồng đều nhưng có lợi thế là nuôi được kích cỡ lớn. Tôm sú có kích cỡ dưới 25 gam/con thì không cạnh tranh lại tôm thẻ chân trắng nhưng trên kích cỡ này thì không có đối thủ cạnh tranh.
Tiến sĩ Limsuwan cho biết ngoại trừ Việt Nam và Ấn Độ gần như chỉ nuôi tôm sú, Thái-lan nuôi 80% tôm thẻ chân trắng và 20% tôm sú; Indonesia là 50:50; Trung Quốc cũng tương tự và đang phát triển mạnh việc nuôi tôm thẻ chân trắng.