Ngân hàng và tài chính là hai cái "vòi" của nền kinh tế trong việc "bơm" tiền ra lưu thông và rút tiền từ lưu thông về. Vì vậy, bơm tiền ra như thế nào và rút tiền về như thế nào? Ðây là vấn đề kinh tế chính trị, xã hội rất lớn, bởi vì nó gắn với sự tăng trưởng hay sụt giảm của nền kinh tế. Mục đích của việc xử lý nợ tồn đọng là nhằm làm cho tiền tệ ổn định và nâng cao sức mua của đồng tiền ngoài các công cụ của chính sách tiền tệ thì việc xử lý nợ tồn đọng trong các DN là một trong những yếu tố quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp, nếu một DN có nợ vay ngân hàng hàng nghìn tỷ đồng, do sản xuất kinh doanh thua lỗ, sản phẩm không tiêu thụ được, không có vốn để trả nợ ngân hàng, nếu như Nhà nước dùng biện pháp tình thế khoanh nợ, giãn nợ kéo dài kỳ hạn trả nợ và không thu lãi trong thời gian khoanh nợ từ 3 đến 5 năm thì đó là bài thuốc "trợ lực" cho DN, giám đốc DN có thể tạm thời yên tâm điều hành sản xuất, kinh doanh, chăm lo cho đời sống cán bộ, công nhân viên, sau vài ba năm phục hồi sản xuất ăn nên làm ra lo trả một phần nợ gốc và lãi cho ngân hàng, thì đó là điều đáng mừng. Ngược lại, nếu những DN sau thời gian khoanh nợ, giãn nợ nhưng vẫn không khắc phục được khó khăn, sản xuất kinh doanh vẫn đang trong tình trạng thua lỗ kéo dài thì bản thân cấp chủ quản đó phải xử lý như chuyển giao, bán, khoán cho thuê DN và từ đó số nợ tồn đọng vay ngân hàng sẽ được chuyển giao tương ứng cho đơn vị mới kèm theo tài sản làm bảo đảm nợ vay. Tuy nhiên, cũng có những DN không chuyển giao được mà phải cho phá sản giải thể DN, từ đó số nợ vay ngân hàng cũng "chết theo" và cuối cùng là Nhà nước phải gánh chịu.
Vấn đề đặt ra là, chỉ nên xử lý số nợ tồn đọng do nguyên nhân khách quan gây nên như thiên tai, mất mùa, bão lụt, những trường hợp này ngân hàng có thể xem xét xử lý, trình Chính phủ cho phép xóa nợ do nguyên nhân bất khả kháng. Còn đối với nợ tồn đọng do nguyên nhân chủ quan như quản lý yếu kém, sản xuất không thích ứng được với cơ chế thị trường thì bản thân DN phải tự chịu trách nhiệm, do kinh doanh không thể khắc phục được, thua lỗ kéo dài. Trong quá trình xử lý có ba vấn đề đặt ra:
Thứ nhất, nếu nghiêng về phía DN, chấp nhận những khoản nợ tồn đọng đã được xử lý để cho DN được khoanh, giãn nợ thêm một thời gian nữa thì làm cho DN có tư tưởng ỷ lại Nhà nước, không kích thích được sản xuất phát triển. Trong thực tế, đối với DN sản xuất, kinh doanh đã ổn định, từng bước khắc phục được những khó khăn thì bản thân DN đó phải tự lo trả một phần số nợ đã khoanh trước đây, còn đối với những món nợ tồn đọng mới phát sinh thì DN phải tự xử lý lấy có thể giảm trừ vào lợi nhuận hằng năm hoặc các năm sau.
Thứ hai, cần nâng cao quyền tự chủ kinh doanh, tự chịu trách nhiệm của các ngân hàng thương mại, nếu nghiêng về phía DN để được khoanh nợ, thì số vốn đó sẽ bị tồn đọng không quay vòng, hơn nữa nguồn vốn ngân hàng cho vay là nguồn vốn huy động và bản thân các tổ chức tín dụng càng không nên ỷ lại vào ngân hàng Nhà nước cấp trên, nếu không xử lý được thì lấy quỹ dự phòng để bù đắp cho những khoản rủi ro, cơ chế thị trường coi "lời ăn, lỗ chịu" là điều tất yếu.
Thứ ba, đối với các DN sản xuất, kinh doanh có hiệu quả, sản phẩm cạnh tranh được với thị trường, tình hình tài chính trong sạch, lành mạnh, không những hoàn thành được nghĩa vụ nộp ngân sách Nhà nước mà còn có tích lũy để thực hiện cho những chu kỳ sản xuất tiếp theo, mặc dù có nợ tồn đọng, nhưng trong vài ba năm tới có thể khắc phục được, Nhà nước cần có chính sách ưu đãi về thuế, lãi suất tín dụng để khuyến khích DN trong việc đầu tư đổi mới dây chuyền công nghệ sản xuất, nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh.
Mục đích của xử lý nợ tồn đọng là giúp các doanh nghiệp giải tỏa được các khoản nợ vay ngân hàng chưa có khả năng hoàn trả, để tăng nhanh vòng quay vốn lưu động, không để vốn chết; mở ra hướng làm ăn mới.
Hướng phấn đấu của các DN trong thời gian tới là làm thế nào giảm đến mức tối đa số nợ tồn đọng, hạn chế các khoản vốn chiếm dụng và vốn bị chiếm dụng trong thanh toán. Muốn vậy, bản thân DN phải tự nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh, tăng cường huy động vốn tự có, hạn chế vốn vay ngân hàng, thu hồi các khoản công nợ, thực hiện phương thức thanh toán tiền vào hàng ra không để nợ nần dây dưa kéo dài.
Về phía bộ chủ quản và các ngành quản lý, cần rút kinh nghiệm, tính toán kỹ các dự án đầu tư trong thời gian tới nhất là nhập máy móc thiết bị của nước ngoài tránh những hậu quả nặng nề để lại cho nền kinh tế.