Xóa bộ chủ quản, xây trường ĐH đẳng cấp quốc tế: những việc cần làm

Ngày 20-1, Bộ GD-ĐT
tổ chức gặp gỡ thông báo
về những vấn đề đổi mới GD ĐH.
Ngày 20-1, Bộ GD-ĐT tổ chức gặp gỡ thông báo về những vấn đề đổi mới GD ĐH.

Xóa cơ chế bộ chủ quản

Ðây được coi là chủ trương khá mới mẻ mà Bộ Giáo dục và Ðào tạo đưa ra. Hiện nay phần lớn các trường đại học, cao đẳng (ÐH, CÐ) đều trực thuộc các bộ, ngành và các địa phương. Trong đó, bộ quản nhiều trường ÐH nhất là Bộ Giáo dục và Ðào tạo (35 trường), Bộ Y tế (tám trường), Bộ Văn hóa Thông tin (sáu trường). Nhiều bộ, ngành khác đều "cõng" từ một đến hai trường. Một số địa phương gần đây thành lập các trường đại học và cũng được xem như là chủ thể chủ quản các trường đó.

Công bằng mà nói, cơ chế quản lý theo kiểu này có những mặt thuận lợi, giúp cho bộ, ngành quản lý, hỗ trợ các trường về tài chính, tổ chức nhân sự, nghiên cứu khoa học, hợp tác quốc tế, v.v; nhất là trong giai đoạn mới hình thành hệ thống GD ÐH nước ta và trong bối cảnh nền kinh tế theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung.

Tuy nhiên, sau nhiều năm tồn tại, cơ chế bộ chủ quản bộc lộ những hạn chế yếu kém. Trước hết, là sự khép kín trong từng bộ, ngành dẫn đến cát cứ, cục bộ. Trong nhiều công việc, bộ chủ quản trở thành cơ quan trung gian, trường chịu sự chỉ đạo của nhiều cơ quan quản lý, dạng "một cổ hai tròng", làm mất đi tính chủ động và tự chịu trách nhiệm của trường, tính thống nhất của hệ thống cũng như sức ép tăng lên trong khi hiệu quả giảm xuống.

Mặt khác, chất lượng của các trường thuộc các bộ, ngành khác nhau cũng khó mà bảo đảm mặt bằng chung về trình độ đào tạo, chuẩn kiến thức; nội dung chương trình hẹp và thiếu tính mềm dẻo, khó khăn cho việc liên thông. Ðó là chưa kể đến việc bản thân các trường có tư tưởng ỷ lại, trông chờ vào các nguồn lực của bộ chủ quản, khiến cho môi trường hoạt động đào tạo và NCKH hết sức thụ động.

GS,TS Bành Tiến Long, Thứ trưởng Giáo dục và Ðào tạo cho rằng: Mục tiêu xóa bỏ cơ chế bộ chủ quản là trao quyền tự chủ và trách nhiệm xã hội cao nhất cho các trường ÐH, để các trường có được một không gian tự do nhất định cho các hoạt động học thuật, sáng tạo, năng động và hiệu quả trong mọi hoạt động của nhà trường; từ đó tạo nên sự đột phá và phát triển của từng trường dẫn đến sự phát triển của toàn hệ thống trong tiến trình hội nhập khu vực và quốc tế. Thực chất của việc xóa bỏ cơ chế bộ chủ quản không phải là đưa các trường ÐH ra "ở riêng", đi khỏi "mái nhà" của các bộ. Xóa bỏ cơ chế bộ chủ quản là tăng cường hơn nữa quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm cho từng trường.

Tuy nhiên, để xóa bỏ những rào cản nói trên không phải dễ dàng khi chúng ta vẫn giữ thói quen tư duy quản lý theo cơ chế hành chính bao cấp của bộ chủ quản và các trường ÐH. Một số quyền và lợi ích cục bộ của cơ chế xin - cho sẽ mất đi; nhất là khi chưa có những nghiên cứu đầy đủ và toàn diện về lý luận và thực tiễn của cơ chế tự chủ và tự chịu trách nhiệm xã hội để có được một mô hình rõ rệt về hoạt động của hệ thống trường ÐH ở Việt Nam theo cơ chế này.

Tuy nhiên, nói vậy, không có nghĩa bó tay khi nhu cầu và sức ép phát triển GD ÐH ngày càng lớn. Bởi vậy, hơn bao giờ hết, bỏ cơ chế bộ chủ quản chính là tư duy mới về quản lý nhà nước đối với GD ÐH, từ đó tạo ra không gian và môi trường rộng lớn cho sự phát triển GD ÐH trên cơ sở giao cho các trường quyền tự chủ về mọi mặt; bao gồm tổ chức, nhân sự, tài chính, đào tạo. Khi đó, nhà trường hoạt động trong khuôn khổ của pháp luật, dưới sự giám sát của Hội đồng trường. Muốn thực hiện tốt, cần xác lập mô hình tổng quát của hệ thống GD ÐH hoạt động hoàn toàn tự chủ và chịu trách nhiệm xã hội sau khi không còn bộ chủ quản; bảo đảm chất lượng đào tạo và điều phối hiệu quả ngân sách nhà nước cho các trường. Quyền hạn và trách nhiệm của các cơ quan quản lý Nhà nước và của các trường ÐH cũng được khẳng định rõ ràng hơn. Ví như quyền hạn và trách nhiệm của Chính phủ, các bộ, ngành là xây dựng chiến lược, phương hướng, chủ trương phát triển cũng như kế hoạch dài hạn, kế hoạch hằng năm cho phát triển GD ÐH.

Ngoài ra, bảo đảm điều kiện về tài chính cũng như ban hành chế độ chính sách, kiểm định chất lượng để phát triển hệ thống đào tạo quan trọng này. Quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các trường ÐH được thực hiện thông qua hoạt động của hội đồng trường như xây dựng mục tiêu, chiến lược; phương hướng hoạt động và phát triển; huy động và giám sát việc sử dụng các nguồn lực dành cho nhà trường; quy định về chủ trương sử dụng tài chính, tài sản, v.v.

Xây dựng trường đẳng cấp quốc tế

Trước thực trạng hệ thống GD ÐH yếu kém cũng như yêu cầu cần đổi mới để đáp ứng nhu cầu đào tạo nguồn nhân lực phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, hội nhập GD ÐH và kinh tế quốc tế, rõ ràng các trường ÐH nước ta cần phát triển ngang tầm các trường ÐH trong khu vực và trên thế giới. Tuy nhiên, theo nhiều chuyên gia giáo dục thì việc đổi mới cả hệ thống các trường ÐH cùng một lúc là khó khả thi. Vì vậy, cần chọn điểm đột phá, lối đi "tắt", xây dựng một nhà trường tiên tiến, theo chuẩn mực và đẳng cấp quốc tế, làm hạt nhân phát triển ra toàn hệ thống. Ðây cũng là một nhiệm vụ được khẳng định trong Nghị quyết 14/2005 của Chính phủ về đổi mới cơ bản và toàn diện GD ÐH Việt Nam giai đoạn 2006-2020.

Tại cuộc họp Hội đồng Quốc gia giáo dục mới đây, Thủ tướng Phan Văn Khải cũng như các thành viên hội đồng đều cho rằng: Việc xây dựng một trường ÐH đẳng cấp quốc tế tại Việt Nam trong thời điểm hiện nay là cần thiết và cấp bách. Tuy nhiên, xét về hoàn cảnh chủ quan và khách quan, cần có bước đi và lộ trình thích hợp. Ngay cả việc chọn cách làm như thế nào cũng là điều cần thiết, phải bàn tính kỹ khi chúng ta chưa từng có khái niệm và những tiêu chí cụ thể về mô hình kiểu trường có thương hiệu như thế này. Ðó là chưa nói đến tìm đâu khoản kinh phí không nhỏ để xây dựng và cơ chế quản lý nhà trường như thế nào cho phù hợp.

Theo các nhà quản lý giáo dục đào tạo trong nước , có hai cách hình thành trường đại học đẳng cấp quốc tế. Một là, trên cơ sở một trường ÐH nào đó đã có; hai là, xây dựng một trường ÐH mới hoàn toàn. Cách thứ nhất có ưu điểm là một số cơ sở ban đầu của trường đã có và chỉ cần có chính sách phù hợp cung cấp tài chính. Tuy nhiên, cách này buộc phải có cơ chế chính sách đủ mạnh để vượt qua trở ngại và rào cản của sự trì trệ, của thói quen và nền nếp cũ như sức ì mang tính hệ thống đã tồn tại duy trì khá lâu trong mỗi nhà trường. Cách xây dựng một trường hoàn toàn mới có lợi thế rõ rệt vì thực hiện được các ý tưởng ngay từ đầu. Mặt khác không mất nhiều công sức và tiền của trong việc nâng cấp, chỉnh sửa cơ sở vật chất kỹ thuật vốn có, trong việc cải tổ những nền nếp, thói quen và những trì trệ của bộ máy kiểu cũ. Cũng theo cách này, mặc dù kinh phí đầu tư ban đầu cao nhưng hiệu quả cuối cùng tốt hơn nhiều so với cách thứ nhất trong việc tạo ra một môi trường mới cả về cơ sở vật chất cũng như hoạt động học thuật.

Mặc dù cả hai phương án nói trên chưa được quyết định một cách cụ thể, nhưng mới đây, Thủ tướng Phan Văn Khải đã giao ngành giáo dục - đào tạo phối hợp các ngành, các cơ quan chức năng nghiên cứu, đề xuất xây dựng dự án thành lập trường; trước mắt sớm thành lập tổ công tác, khẩn trương làm việc với phía đối tác nhằm tranh thủ sự tư vấn, đẩy nhanh tiến trình xây dựng Trường đại học đẳng cấp quốc tế ở Việt Nam.

Ngay từ những ngày đầu của năm 2006, Chính phủ cũng như ngành giáo dục và đào tạo, các ngành, các cấp có liên quan đã vào cuộc, bằng những chủ trương và việc làm cụ thể, quyết tâm xây dựng và đưa nền GDÐH Việt Nam phát triển theo hướng tiên tiến và hiện đại.

Có thể bạn quan tâm