Nhóm nghiên cứu khoa học (NCKH) là một tập thể các nhà khoa học và học thuật có năng lực chuyên môn tốt, có tâm huyết, đạo đức nghề nghiệp, chân thật trong cuộc sống (honesty), có khát vọng định hướng cùng một mục đích, một lĩnh vực chuyên môn nhất định; thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu và đào tạo tại một đơn vị hạt nhân (hay xoay quanh đơn vị hạt nhân đó); được dẫn dắt bởi một (hay một vài) nhà nghiên cứu có uy tín khoa học, đạo đức và đồng thời phải có khả năng tổ chức, giao tiếp, tập hợp...; có văn hóa nhóm riêng biệt. Nói một cách khái quát, mọi thành quả của nhóm phải xuất phát từ năng lực nội sinh.
Các yếu tố quyết định sự thành công của nhóm NCKH
Tiêu chí đánh giá mức độ thành công đối với nhóm NCKH đòi hỏi rất cao. Trước hết, nhóm phải hoàn thành được nhiệm vụ chuyên môn, tức là phải tạo ra được công trình khoa học có chất lượng cao. Thứ hai, phải tạo ra được một đội ngũ những người tài làm việc có tinh thần đồng đội. Thứ ba, phải có ảnh hưởng tới nền kinh tế - xã hội ở một mức độ nào đó, trong một phạm vi nào đó. Và cuối cùng, với vai trò trung tâm, nhóm phải tạo dựng được một môi trường học thuật tự do, công bằng, sáng tạo, có tinh thần tập thể trong đào tạo và nghiên cứu khoa học. Ðiều này phải có sức lan tỏa và lũy tiến, tác động tốt trong cơ quan hay trong địa phương. Ðể làm tiền đề cho sự thành công của một nhóm NCKH, theo tôi có ba yếu tố quyết định:
Ðầu tiên là tập hợp đúng người, đúng việc. Trong bất kỳ trường hợp nào, con người luôn đóng vai trò quyết định. Nhóm - tức là số nhiều, để hình thành được một nhóm NCKH, tức là phải tập hợp được nhiều người làm khoa học (hoặc hoạt động trong lĩnh vực khoa học). Nguồn nhân lực được tập hợp trước hết phải có chất lượng cao và đặc biệt cần có tính chuyên nghiệp. Hai tính chất này phải được cộng hưởng nhằm tạo sức mạnh mới cho toàn nhóm. Trong quá trình tập hợp nhân sự, nên chú trọng các nhân tố kế thừa. Trong một đề tài lớn có thể có nhiều hướng nhỏ, mỗi hướng nhỏ cần phải tìm được người có khả năng làm chủ được chuyên môn và triển khai thực hiện. Trên cơ sở đó, các thành viên được lựa chọn sẽ tạo thành nhóm chủ lực, trực tiếp phụ trách nghiên cứu, những người khác làm công tác hỗ trợ. Nhiệm vụ của từng thành viên cần được quán triệt chi tiết và cụ thể. Lý lịch khoa học của mỗi thành viên trong nhóm chủ lực phải được hệ thống.
Tiếp theo là có phong cách riêng. Phong cách của một nhóm NCKH được tạo dựng một cách có chủ đích ngay từ ban đầu bởi người thủ lĩnh, và nó phụ thuộc rất nhiều vào khát vọng, cá tính... của người thủ lĩnh đó. Thí dụ: Năng động - Hiệu quả - Ham học hỏi - Làm việc hết mình. Ðó là một phong cách riêng. Phong cách ấy phải được bồi bổ thường xuyên để trở thành biểu tượng và trở thành niềm tự hào của tập thể.
Sau cùng là người thủ lĩnh. Người thủ lĩnh cần có các vai trò chính sau: Vai trò "nam châm": Thu hút sự chú ý ngay từ khi thực hiện các công đoạn đầu tiên đi "lượm lặt", tìm kiếm và tập hợp nhân sự, cũng như tìm kiếm các điều kiện cần thiết khác, để có thể kiến tạo được một nhóm NCKH đủ tầm. Vai trò "điểm tựa": Phải làm cho mỗi thành viên hiểu rằng, họ có thể hợp tác trong nhóm một cách bền vững, lâu dài và đôi bên cùng có lợi. Mỗi thành viên đều tin vào năng lực chuyên môn và tư cách đạo đức của thủ lĩnh. Ðặc biệt, đối với sinh viên hay cán bộ trẻ, người thủ lĩnh phải tranh thủ được niềm tin của gia đình, người thân của các thành viên trong nhóm (nên tận dụng tối đa, có hiệu quả các vai trò của người thầy, người cha hay người anh). Vai trò "đèn pha": Có đủ khả năng hướng dẫn, dẫn dắt như một kim chỉ nam về chuyên môn, các mối quan hệ, giao tiếp nghề nghiệp... Vai trò "nội trợ": Khi cần, người thủ lĩnh sẵn sàng chăm lo tới những chi tiết dù nhỏ nhất trong công việc hằng ngày, cũng như trong một số sinh hoạt của một thành viên (nếu có thể). Vai trò "cận vệ": Mỗi thành viên trong nhóm luôn yên tâm tin rằng, mình luôn có được sự bảo vệ, che chở của thủ lĩnh nếu như mình thực hiện đúng các ý tưởng, kế hoạch đã được thông qua. Vai trò "nổi lửa": Người thủ lĩnh luôn hun đúc cho mỗi thành viên những mong muốn phấn đấu và cống hiến. Khi ở cạnh, hay khi nghĩ về thủ lĩnh, mỗi thành viên đều cảm thấy khát vọng sống, khát vọng học tập và khát vọng làm việc. Ðặc biệt là vai trò cộng hưởng sức mạnh. Vai trò "chất keo": Trong một tập thể đông người rất dễ xảy ra các va chạm, do vậy người thủ lĩnh phải làm tâm điểm xây dựng, bảo vệ sự đoàn kết, thống nhất... Vai trò "hoạt náo viên": Các hoạt động sáng tạo trong NCKH luôn trầm lặng và căng thẳng, người thủ lĩnh cần biết cách tạo ra không khí tươi vui lành mạnh, như vậy hiệu quả làm việc sẽ tăng, đồng thời không gây sự nhàm chán. Vai trò "ngòi nổ": Tất cả (hoặc hầu hết) các ý tưởng nghiên cứu, các cải cách lớn, quan trọng đều phải xuất hiện đầu tiên ở người thủ lĩnh, hoặc do người thủ lĩnh khởi động. Tất nhiên phải rất chú trọng kích thích sự sáng tạo của mỗi thành viên. Nói chung, người thủ lĩnh phải biết cách tạo ra chất sống và sức sống, phát triển sức sống ấy cho nhóm NCKH. Vai trò "bà đỡ": Ðón nhận, triển khai các nhiệm vụ nghiên cứu, đưa vào ứng dụng hoặc chuyển giao kết quả, liên kết... Nói cách khác, người thủ lĩnh không những phải biết cách đón nhận "đầu vào" mà còn cần biết triển khai tốt "đầu ra".
Kinh nghiệm xây dựng nhóm NCKH tế bào gốc
PGS, TS Trần Linh Thước (nguyên là Trưởng khoa Sinh học, Trường đại học Khoa học Tự nhiên, Ðại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh) là người đầu tiên trong Khoa khởi xướng xây dựng nhóm NCKH (1995-1996). Mô hình này đã thành công ngay từ thời gian đầu mà kết quả của nó là sự ra đời của Phòng thí nghiệm Công nghệ sinh học phân tử (2000) - một phòng thí nghiệm đạt hiệu quả rất cao trong đào tạo và hiệu quả đặc biệt trong NCKH. Bản thân tôi (và nhiều đồng nghiệp khác trong khoa) đã cố gắng tiếp cận và học tập mô hình này. Qua đó, Khoa Sinh học đã hình thành được nhiều nhóm NCKH tốt.
Phòng thí nghiệm Tế bào gốc và Nhóm NCKH tế bào gốc của chúng tôi ra đời là kết quả tất yếu của một quá trình phát triển mà tập thể cán bộ của Khoa, đặc biệt là tập thể phòng thí nghiệm Công nghệ sinh học phân tử đã cố gắng để đạt được. Hiện tại, Nhóm NCKH tế bào gốc có 58 người, trong đó có 17 người đang học ở nước ngoài (12 TS, năm thạc sĩ). Trong số 17 người đang học ở nước ngoài, có tám là biên chế nhà nước, còn lại chín người là hợp đồng thời vụ với phòng thí nghiệm. Trong số 41 người trong nước có 23 người biên chế nhà nước, còn lại 18 người hợp đồng thời vụ. Ngoài ra còn có các GS, PGS làm cố vấn. Trong mười năm hoạt động, Nhóm NCKH tế bào gốc đã đạt được các kết quả: Hình thành được một hướng đào tạo mới về công nghệ cao; tạo dựng được PTN tế bào gốc đầu tiên ở Việt Nam; đưa công nghệ cao vào ứng dụng trong xã hội với các hướng: tạo động vật trong ống nghiệm, tạo động vật biến đổi gen, đào tạo cán bộ thụ tinh ống nghiệm trên người, công nghệ tái tạo mô người bằng tế bào gốc, thao tác biến đổi in vitro tế bào gốc, công nghệ tế bào gốc ứng dụng trong y sinh học, công nghệ sinh dược phẩm... Về đào tạo, đã có được hai tiến sĩ, năm nghiên cứu sinh, 18 thạc sĩ, 267 cử nhân công nghệ sinh học và sinh học hướng công nghệ tế bào và tế bào gốc; đào tạo giúp các đơn vị bạn 35 cán bộ kỹ thuật; thực hiện hai đề tài nhánh cấp nhà nước; chín đề tài cấp bộ; năm đề tài cấp thành phố, bốn đề tài cấp tỉnh, bốn đề tài cấp đại học quốc gia TP Hồ Chí Minh, ba đề tài hợp tác quốc tế, bốn đề tài vườn ươm và nhiều đề tài cấp cơ sở, tạo được một số sản phẩm và đã chuyển giao (tế bào phôi động vật, màng vật liệu y sinh và thẩm mỹ, một số chế phẩm sinh học...). Ðăng tải 16 bài báo khoa học trên các tạp chí nước ngoài, có hàng chục báo cáo khoa học tại các hội thảo khoa học trong nước và quốc tế, xuất bản bốn cuốn sách khoa học chuyên sâu.
PHẠM KIM NGỌC
(Ðại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh)