Để khu vực này đáp ứng nhiệm vụ trong điều kiện mới, cần hơn nữa sự chủ động của cấp ủy địa phương trong thực hiện các giải pháp an sinh bền vững; khơi dậy tính tự chủ và tạo sức “đề kháng” trong cộng đồng dân cư; xây dựng, củng cố hệ thống chính trị ở cơ sở KVBG vững mạnh toàn diện.
Sau những vụ bạo động, mất ổn định từng xảy ra ở một số địa bàn vùng Tây Bắc, Tây Nguyên..., cho thấy, vấn đề nghèo đói, đất đai, dân tộc, tôn giáo luôn bị các thế lực thù địch lợi dụng, gây chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc; kích động, lôi kéo đồng bào tham gia chống đối chính quyền. Để giữ vững bình yên vùng biên ải, trước hết cần giải quyết tốt những nhu cầu thiết thực của đời sống dân sinh; nâng cao nhận thức và niềm tin của đồng bào các dân tộc nói chung, KVBG nói riêng đối với các chính sách của Đảng, Nhà nước, để người dân yên tâm bám bản, bám làng.
Nghèo đã giảm nhưng chưa bền vững
KVBG đã được Đảng, Nhà nước quan tâm bằng nhiều chủ trương, chính sách đặc thù cụ thể, toàn diện. Các chương trình hỗ trợ nâng cao chất lượng cuộc sống đồng bào vùng dân tộc thiểu số (DTTS), KVBG, vùng đặc biệt khó khăn như 30A, 135, 134,... và các chương trình quốc gia về giảm nghèo, nông thôn mới, đã mang lại cuộc sống ngày càng cải thiện cho cư dân KVBG. Hạ tầng nông thôn có bước tiến rõ nét, người dân được chăm sóc y tế, giáo dục, xóa đói, giảm nghèo (XĐGN)...
Tuy nhiên, đây vẫn là khu vực có tỷ lệ hộ nghèo cao nhất. Tìm hiểu một số địa bàn thuộc các tỉnh biên giới Cao Bằng, Lào Cai, Lạng Sơn, Đác Lắc, Tây Ninh... chúng tôi ghi nhận thực tế: Đã có các chính sách hỗ trợ, nhưng nơi nào cấp ủy, chính quyền chủ động, nơi đó người dân có ý thức tự chủ giảm nghèo bền vững; nơi nào cấp ủy lúng túng, nơi đó người dân trông chờ sự hỗ trợ, tốc độ giảm nghèo chậm, tỷ lệ tái nghèo cao.
Xã biên giới Tú Mịch (Lộc Bình, Lạng Sơn) có tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn đa chiều là 32%, cận nghèo là hơn 30%. Lý giải nguyên nhân, cấp ủy cho rằng nguồn kinh phí còn hạn chế; chưa được công nhận thuộc vùng 3; không có nguồn huy động tại chỗ; một số chính sách hỗ trợ chưa thật sự phù hợp; người dân còn ỷ lại... Tuy nhiên, khi được hỏi về những giải pháp cụ thể của địa phương trong XĐGN, ngoài các chương trình hỗ trợ của Nhà nước, bản thân đồng chí cán bộ đã có hai khóa phụ trách công tác XĐGN trả lời khá lúng túng.
Nhờ các chương trình hỗ trợ của Nhà nước, đã xuất hiện những con đường trải nhựa tới hai xã biên giới Hòa Hội và Thành Long (Châu Thành, Tây Ninh). Cấp ủy, chính quyền nơi đây đã chủ động trong đánh giá, phân loại ba nhóm hộ nghèo, nhóm một có khả năng thoát nghèo bền vững; nhóm hai gồm các hộ có khả năng thoát nghèo nhưng không bền vững; nhóm còn lại được xác định là nghèo vĩnh viễn, không có khả năng lao động, cần hỗ trợ hoàn toàn. Tuy nhiên, công tác này cũng mới chỉ dừng ở mức phân loại để phân bổ các chương trình giảm nghèo hợp lý, bảo đảm đúng đối tượng thụ hưởng, chứ chưa có giải pháp tự thân để vươn lên thoát nghèo.
Ở góc độ nghiên cứu, PGS, TS Phạm Xuân Hảo, Viện Xã hội học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh cho rằng, chủ trương, chính sách XĐGN nhiều nhưng hiệu quả chưa đạt như mong muốn, có nguyên nhân từ việc chưa xác định rõ trách nhiệm của cấp ủy, chính quyền; người dân thiếu tính chủ động. XĐGN không chỉ làm cho dân, mà phải vận động nhân dân cùng làm; cần hài hòa giữa quyền lợi và trách nhiệm. Do đó, vấn đề đặt ra cho cấp ủy, chính quyền là phát huy tính chủ động của người nghèo, gia tăng số hộ thuộc nhóm một. Các giải pháp hỗ trợ vốn, kỹ thuật phải song hành với tạo đầu ra ổn định cho sản phẩm của người dân, mới có thể hướng tới thoát nghèo bền vững.
Bí thư Đảng ủy xã biên giới Trường Hà (Hà Quảng, Cao Bằng) Lê Văn Triển chia sẻ kinh nghiệm: Cái khó ban đầu là thay đổi nếp nghĩ, thói quen của người dân từ thụ hưởng sang chủ động, từ cách làm truyền thống sang áp dụng tiến bộ kỹ thuật; từ tự cung, tự cấp sang sản xuất hàng hóa... Gỡ cái khó này được coi là “chìa khóa” để từng bước XĐGN bền vững. Cách làm của Trường Hà là cán bộ, đảng viên áp dụng hiệu quả, cán bộ chủ chốt làm mẫu rồi mới vận động người dân. Trường Hà bước đầu hình thành mô hình trồng mận của ông Hoàng Đức Tính; trồng đào cảnh của ông Dương Văn Sự ở thôn Pác Bó... đã có 200 hộ tham gia trồng cây ăn quả, tổng diện tích 15 ha; gần 180 hộ phát triển chăn nuôi gia cầm.
Tại huyện biên giới Ea Súp (Đác Lắc), đầu năm 2011, kết quả giảm nghèo thiếu bền vững, tỷ lệ hộ tái nghèo ở mức 45%, nhất là KVBG như xã Ia Lốp có gần 89% là hộ nghèo; xã Ia Rvê gần 69%... Huyện ủy đã ban hành Nghị quyết chuyên đề về giảm nghèo, mục tiêu trước hết tập trung KVBG. Giao nhiệm vụ cho cấp ủy, chính quyền cơ sở phối hợp mặt trận và các đoàn thể, tạo sự đồng thuận, cùng hành động trong nhân dân. Sau 5 năm, gắn với thực hiện Nghị quyết T.Ư 7, khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn, các chỉ tiêu đề ra đều đạt và vượt, trong đó tỷ lệ hộ nghèo giảm còn 29%, tỷ lệ hộ khá, giàu tăng lên gần 17%, kéo giảm khoảng cách giữa các xã biên giới với các xã khác trong huyện. Đời sống người dân được cải thiện là yếu tố quan trọng bảo đảm an ninh nông thôn ở địa bàn “nhạy cảm” như Ea Súp.
Tăng khả năng đề kháng
Tây Nguyên có tuyến biên giới đất liền dài hơn 530 km, tiếp giáp với các tỉnh thuộc nước bạn Lào và Cam-pu-chia; có 31 xã biên giới thuộc bốn tỉnh Kon Tum, Gia Lai, Đác Lắc và Đác Nông. Đây là địa bàn chiến lược, đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; luôn tiềm ẩn nguy cơ mất ổn định do tác động của các thế lực thù địch từ ngoài đất nước, đến những đối tượng từng hoạt động chống phá cách mạng, đang sinh sống tại cộng đồng. Tây Nguyên cùng với Tây Bắc, là hai địa bàn có sự du nhập của một số “đạo lạ”. Những hệ lụy từ đó đã phá vỡ các giá trị gia đình, truyền thống, văn hóa dân tộc. Do đó, nâng cao ý thức tự đề kháng của đồng bào là giải pháp “sâu rễ, bền gốc”.
Kinh nghiệm từ Huyện ủy Ea Súp là cần làm tốt công tác vận động quần chúng ở các khu vực “nhạy cảm”. Tổ chức tuyên truyền, vận động toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc, kết hợp kiểm điểm đối tượng sai phạm trước dân. Cảm hóa những người trước đây từng theo FULRO, chọn nhân tố tích cực bồi dưỡng trở thành người có uy tín. Câu chuyện của họ là cách tuyên truyền trực quan tốt nhất để người dân hiểu và phòng tránh mưu đồ lôi kéo của các thế lực phản động. Dân tin thì họ sẽ hợp tác trong đấu tranh phòng, chống tệ nạn và làm thất bại âm mưu của các thế lực thù địch. Chín tháng đầu năm 2016, nhân dân đã cung cấp hàng trăm tin báo có giá trị, giúp lực lượng công an xã xác minh làm rõ hơn 40 vụ việc, liên quan 57 đối tượng; giúp cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện khởi tố 30 vụ án... Tại hai xã vùng biên, Ia Lốp và Ia Rvê, công tác dân vận được lồng ghép trong hơn 3.000 ngày công giúp người dân thu hoạch keo, xây dựng nông thôn mới.
Theo Ban Chỉ đạo Tây Nguyên, trong bối cảnh một số tôn giáo bị các thế lực thù địch lợi dụng, quần chúng ngộ nhận, cấp ủy các cấp, ngành ở Tây Nguyên đã kiên trì giáo dục, thuyết phục làm cho đồng bào hiểu rõ, từ đó đấu tranh xóa bỏ “Tin lành Đêga”, đạo Hà Mòn, đồng thời thấy rõ chính sách tôn giáo đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta.
Nhắc lại sự kiện gia đình ông Hảng Seo Gia, ở thôn Sảng Chải 5, xã Nàn Sán, làm tang ma cho cha, cán bộ dân vận Huyện ủy Si Ma Cai (Lào Cai) cho biết, đây là gia đình có 10 người đã theo đạo Tin lành. Do được các nhóm đạo ở Bắc Hà, Mường Khương, Điện Biên... "giúp đỡ", gia đình bỏ nghi lễ truyền thống, tổ chức theo nghi lễ của đạo Tin lành. Được cấp ủy cùng mặt trận và các đoàn thể kiên trì, vận động, thuyết phục, đám tang đã được tổ chức gọn nhẹ; phần lớn các gia đình trong thôn không tham dự, cũng là cách phản đối việc gia đình này làm trái quy ước thôn, bản.
Bí thư Huyện ủy Si Ma Cai Vũ Văn Cài cho biết, tăng cường công tác dân tộc, tôn giáo, nhất là những xã trọng điểm, giáp ranh, Huyện ủy đã phân công cấp ủy cơ sở và các ủy viên Ban Chấp hành, Ban Thường vụ phụ trách xã, cán bộ lãnh đạo phụ trách thôn thường xuyên nắm tình hình, phát hiện và ngăn chặn kịp thời những biểu hiện và hoạt động truyền đạo trái pháp luật tại cơ sở. Các buổi họp thôn, hội nghị tuyên vận, sinh hoạt câu lạc bộ được lồng ghép tuyên truyền các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đối với vấn đề tôn giáo. Duy trì hoạt động của Tổ công tác tại xã Nàn Sán, kịp thời phát hiện, ngăn chặn “đạo lạ” thâm nhập cộng đồng. Chín tháng đầu năm 2016, trên địa bàn không xảy ra phức tạp liên quan tôn giáo. Số hộ dân có biểu hiện theo đạo trái pháp luật tại thôn Sảng Chải 5, xã Nàn Sán đã giảm.
Bảo tồn văn hóa đặc trưng gắn với vai trò người uy tín
Ấp Bố Lớn, xã Hòa Hội (Châu Thành, Tây Ninh) giáp biên giới Cam-pu-chia, có 28 hộ người dân tộc Khmer, với hơn 100 nhân khẩu, chung sống hòa hợp cùng bà con các dân tộc khác. Nhân tố góp phần kết nối bền vững là chị Keo Onl, dân tộc Khmer. Chị được người dân tín nhiệm giới thiệu làm người uy tín. Phát huy vai trò của mình, chị thường xuyên có mặt cùng cấp ủy, chính quyền giải thích và tuyên truyền đường lối, chủ trương của Đảng, Nhà nước, tháo gỡ những bất đồng, mâu thuẫn trong nhân dân. Chị vừa là “thông dịch viên” để cấp ủy, chính quyền tiếp cận cộng đồng người Khmer và bà con trong ấp, vừa góp phần giữ gìn, bảo tồn những nét văn hóa truyền thống của người Khmer.
Xã Quý Quân của huyện Hà Quảng (Cao Bằng) có hơn 50% số dân là người dân tộc Mông, Dao, còn lại là Tày, Nùng. Tỷ lệ hộ nghèo có thời điểm lên hơn 79%. Sáu thôn trên núi cao, tiếp giáp Trung Quốc, đều hưởng Chương trình 135. Xóm Tềnh Cà Lừa, nơi 100% số dân là người Mông đã hình thành đoạn đường đầu tiên lên núi, dài hơn 600 m. Ở đó, có vai trò của người uy tín như ông Sùng Văn Lầu. Không chỉ là “linh hồn” của người Mông nơi đây trong vận động bà con gìn giữ nét văn hóa đặc trưng, ông luôn tự nguyện đi đầu các phong trào như hiến hơn 200 m2 đất làm đường; động viên người dân bám đất, bám rừng, không nghe kẻ xấu xúi giục di dân tự do, truyền bá “đạo lạ”.
Bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống trong cộng đồng DTTS, kết hợp vai trò người uy tín, làm nền tảng tinh thần kết nối khối đoàn kết, là vấn đề các cấp ủy cần lưu tâm đúng mức. Không ít phong tục, tập quán và nét văn hóa truyền thống đang dần bị phai mờ và có nguy cơ biến mất khỏi đời sống đồng bào DTTS, như ăn cơm mới, cúng bến nước, cầu mùa và cúng đất làng... ở Tây Nguyên. Một già làng đã nói như than: “Ngày trước, lễ trọng là thế, nay con cái theo đạo, nhiều luật tục mất dần. Có thời, dân làng nghe kẻ xấu, đổ xô mang cồng chiêng đi bán, tiếc nuối kể đâu cho hết”. Việc xây dựng nhà sinh hoạt cộng đồng khác xa truyền thống, thay nhà sàn, nhà rông bằng tre, nứa, ván gỗ... bằng những nhà văn hóa bê-tông lợp tôn, cũng vô tình tạo giãn cách trong cộng đồng.
Cùng với sự phát triển, giao lưu và hội nhập khiến một bộ phận đồng bào các DTTS, nhất là lớp trẻ không mặn mà với văn hóa truyền thống, dễ bị cám dỗ bởi các luận điệu tuyên truyền của các thế lực thù địch... bỏ thôn, buôn, bản đi tìm “vùng đất hứa”. Tại các tỉnh Tây Bắc, hoạt động tuyên truyền về "Vương quốc Mông"; hiện tượng người Mông di cư tự do và vắng mặt không rõ lý do có diễn biến phức tạp... Đây là thực tế đặt ra đối với cấp ủy đảng trong đổi mới công tác quản lý địa bàn; tuyên truyền, vận động quần chúng vùng đồng bào DTTS, KVBG. Song song với thiết chế chính thức do Nhà nước ban hành, cần củng cố và phát huy các tổ chức tự quản ở thôn, buôn, làng, bản. Bởi thực tế, thiết chế truyền thống có sức mạnh kết nối và tác động rất mạnh mẽ đến đời sống cộng đồng.
(Còn nữa)