Đến với Vĩnh Ô - vùng đất còn ẩn chứa nhiều nét văn hóa độc đáo của người dân tộc Vân Kiều. Với hai bàn tay trần vào những năm gian khó cuối thế kỷ trước mà người của một huyện nghèo như Vĩnh Linh dám xẻ núi, băng nguồn... mở con đường này đến với người dân nơi rừng núi xa xôi quả là một kỳ tích.
Đi mãi, mong mãi, chịu những cơn khát cháy cổ, đến bốn giờ chiều, thì bản nhỏ đầu tiên của xã Vĩnh Ô đã hiện ra trước mắt. Lác đác đôi ngôi nhà lợp ngói và phi-prô-xi-măng, còn lại vẫn rất nhiều khung nhà sàn xiêu vẹo, xác xơ trong nắng gió...
Từng nghe nói Vĩnh Ô là một xã có diện tích đất rộng nhất, nhì Vĩnh Linh, nhưng quanh đây, tôi chả thấy bóng dáng của một mô hình kinh tế V.R.C nào cả.
Trong chiến tranh chống Mỹ, Vĩnh Ô là xã địa đầu giới tuyến, vì vậy nơi đây xưa kia bom đạn dội xuống cũng ác liệt lắm. Trong chiến tranh, người Vân Kiều đã nghe theo tiếng kêu gọi của Đảng và Bác Hồ: Dù bom đạn ác liệt, gian khổ đến mấy đi nữa, vẫn bám đất, bám bản mà chiến đấu, quyết không chịu dời đi nơi khác...
Chính nơi đây, người dân đã ngụy trang, che dấu nhiều đoàn quân, những chiếc tải, xe tăng T54...qua con mắt do thám bằng các phương tiện hiện đại của Mỹ. Để rồi đêm đêm, người dân giới tuyến lại vùng dậy, băng rừng, vượt khe, suối vào tiếp viện cho chiến trường miền Nam. Cũng chính vì đã trải qua thời kỳ chiến tranh khốc liệt, nên số gia đình chính sách ở nơi này có số lượng khá lớn.
Theo anh Hồ Sáu, Hồ Trường, tôi ghé thăm nhà của cụ Hồ Lả tại bản Một. Cụ Lả là du kích xã, tham gia bắn rơi trực thăng Mỹ hồi 1968 - 1969 ác liệt. Mấy chục năm sau, cũng như mảnh đất kiên trung này, trên người cụ vẫn còn những mảnh bom bi của thời chống Mỹ. Có viên nằm sâu trong xương sọ, mỗi khi trái gió trở trời, nó lại trồi lên nhức nhói.
Nhà cụ Lả chả có vật dụng gì đáng giá. Trong bếp, cũng không thấy bất cứ cái gì ngoài chai mắm ruốc để trên chạn, cái A chói rách đáy xác xơ, ráo rỏng treo trên vách liếp, chắc chỉ để làm vật lưu niệm những ngày vào rừng hái măng, đào củ, bởi ngày nay còn rừng đâu nữa mà dùng.
“Đây là cụ già đã tham gia bắn rơi máy bay trực thăng Mỹ ngày xưa đó”- Chủ tịch Hồ Sáu giới thiệu. Cụ Lả quên cả cơn đau, nỗi nghèo khó... hồn nhiên kể lại chuyện đánh Mỹ cho anh em chúng tôi nghe.
“Sáng hôm đó, có ba chiếc may bay cứ liệng qua, liệng lại quanh quả núi bên kia sông Bến Hải. Tui ngứa mắt quá, bảo hai chiến sĩ trong khẩu đội 12 ly 7. “Bắn chết cha hắn đi cho tau!”
Thế là cả ba nạp đạn, bắn mạnh vào chiếc trực thăng đi đầu. Ai ngờ chiếc đi sau trườn tới, lãnh nguyên cả băng đạn. Mất thăng bằng, ngúc ngắc mấy cái, xoay vòng, rồi rớt xuống bất động trên đồi. Một lúc sau, cả bầy trực thăng và phản lực lao tới, chúng ném bom tứ tung, rồi một chiếc hạ xuống cứu thằng phi công bị thương đi. Bên này sông, Hồ Lả cùng đồng đội đặt ống nhòm nhìn sang, thấy thằng phi công còn ngọ nguậy, quấn băng trắng cả một cái đùi.
Suốt ngày và đêm hôm đó, bọn máy bay oanh kích Mỹ lồng lộn, gầm gào trên bầu trời Vĩnh Ô ném bom, bắn rock két vào bất cứ chỗ nào chúng nghi là có du kích ẩn nấp để trả thù. Người dân phải vào rừng, lẫn sâu trong hang đá. Nhưng tiếng bom gầm đạn réo vẫn chát chúa bên tai...
Bí thư Hồ Trường nói thêm: “Thực chất ở xã này có đến bốn chiếc máy bay rơi. Nhưng dân bọn tui chỉ bắn rơi một chiếc thôi. Ba chiếc còn lại, không hiểu vì răng hắn bay ngang qua đây, thì đâm đầu vào núi chết.”
Tôi hỏi Hồ Sáu: “Sao chiến công bắn rơi máy bay to thế mà các anh không viết báo cáo đề nghị Chính phủ khen thưởng, tặng danh hiệu gì đó cho các cụ?”.
Hồ Sáu thản nhiên trả lời:
- “Ngày trước các cụ và cán bộ xã nói: “Đánh Mỹ, mà bắn rơi máy bay của hắn, cũng như diệt một con hổ, con báo trong rừng, có chi mà phải kể.
- Anh ngập ngừng chút, đoạn hỏi tiếp: “Bây chừ làm lại được răng?
Tôi ậm ừ: “Vì chuyện đó thì bản thân tôi cũng không rõ lắm”
Nghe đề nghị muốn đến nơi nào xa nhất, khổ nhất của xã, hai anh trố mắt nhìn tôi ngạc nhiên: “Ô! Muốn đến nơi xa nhất của xã ni là bản Tám. Đi một ngày, ở lại một ngày. Người Kinh ít ai đi được lắm! Chỉ cần đến bản Bốn là đã biết hết cái cực của người dân tui rồi.”
Bản Bốn cũng có những căn nhà lợp ngói và phi-prô-xi-măng. Nhưng vào hỏi mới hay, thì ra đó là những ngôi nhà “Đại đoàn kết”, “NJhà tình nghĩa” hoặc “Nhà tình thương”... Đại đa số dân bản vẫn đang sống trong những ngôi nhà sàn ọp ẹp.
Ghé một nhà, gặp một thanh niên gầy gò, đang cố bò dậy trong đống áo chăn bùng nhùng. Hỏi chủ nhà ra mới biết, ngày nay, rừng đã hoàn toàn là của lâm nghiệp rồi, không được phá. Người Vân Kiều có tính không lấy của người khác làm của mình. Bởi thế nên vụ này anh không có việc làm. Cái đói đã hiển diện ra trước mắt.
Anh kể: “Hơn một năm nay tui đổ bệnh. Tiền thuốc đã có Nhà nước cho rồi. Nhưng tiền ăn, tiền người nuôi dưỡng không có, nên đành phải nằm nhà, để vợ đi làm thuê kiếm sống. Anh cố bò dậy chỉ cho tôi xem khoảnh đất chưa đầy 50m2 chỉ để làm nhà ở. Tôi nghĩ với người nông dân miền núi mà chỉ có mỗi 50 m2 đất thôi thì quả là khổ rồi. Căn bếp anh còn tệ hơn cả bếp của bác Hồ Lã nữa, một nồi cơm nấu bằng thứ gạo đỏ quạch, rời rạc và một cái soong chứa đầy măng luộc, muối trắng dã, gọi là bữa ăn trưa... Ba đứa trẻ con chừng 5 đến 10 tuổi, đang thi nhau húp sì soạp.
Nhác ngó vô nhà, nơi anh nằm ngủ, vài bộ áo quần lỏng thỏng bay trong gió. Cả nhà anh chỉ còn một bao lúa duy nhất nặng chừng 35 kg và một cái quạt của Đoàn thanh niên huyện Vĩnh Linh tặng.
Tôi bước ra cửa, đảo mắt về bốn chung quanh: “Rừng núi bạt ngàn thế, mà không nuôi nổi những người dân nơi đây nghĩa là thế nào?”
Ngoái đầu nhìn vào căn nhà một lần cuối. Tấm ảnh Bác Hồ vẫn đang treo chính diện trên tường, chỗ trang trọng đẹp đẽ nhất trong nhà.
Tôi ghé nhà thầy giáo thương binh Hồ Roàng theo lời dặn của nhà báo Lê Nguyên Hồng. Thầy là thương binh do cuốc phải bom bi trong lần hướng dẫn học sinh lao động. Bom nổ, thầy không chết nhưng bị mù cả hai mắt. Vậy nhưng ngày ngày, thầy vẫn phải lội xuống sông bắt cá và sai con dắt lên rừng chặt nứa, củi về bán.
Năm 2000, khi thầy còn sống, chính quyền đã làm cho thầy một ngôi nhà “tình nghĩa.” Nay ngôi nhà vẫn còn đó, nhưng thầy đã đi xa. Gia đình thầy hiện giờ có tất cả là 10 người. Trong nhà cũng không có một vật dụng gì đáng giá 50 nghìn đồng. “Vậy là rất nhiều người Vân Kiều nơi đây vẫn còn khổ quá”!
Chủ tịch, Bí thư xã nói: “Chúng tôi mang tiếng là xã nhiều đất nhất, nhì huyện Vĩnh Linh, nhưng hoàn toàn là đất rừng, thuộc quy hoạch rừng phòng hộ của lưu vực sông Bến Hải. Đất không có, ruộng ít. Chủ yếu là những bãi bồi ven sông, ven suối. Chỉ cần một trận mưa là lũ tràn về cuốn phăng đi tất cả. Hơn nữa địa hình miền núi nên công tác thủy lợi khó có thể khắc phục được. Ruộng luôn luôn nằm trên, mà nước thì róc rách phía dưới. Nắng vài bữa, là hạn khô nứt nẻ.
Bà con tui đói không phải là do “siêng ăn nhác mần” mà chưa tìm ra phương thức canh tác hợp lý’
Nghe lãnh đạo xã nói mà buồn. Xã có 272 hộ, thì đã có tới 200 hộ (tức 73,52%) hộ nghèo và gần 27 (tức 10%) hộ cận nghèo. Số hộ khá giả chỉ chừng hơn 16%. Chủ yếu là rơi vào những gia đình có lương của Nhà nước như: cán bộ, bộ đội, giáo viên, y tế.
Một lý do nữa mà người Vân Kiều khó thoát khỏi nghèo là do đẻ nhiều, đẻ dày. Nếu như năm trước xóa được một hộ, thì năm sau lại thêm hai hộ nghèo khác. Thường là rơi vào những hộ trẻ mới lập gia đình.
“Chúng tôi muốn đề nghị huyện và tỉnh can thiệp, để ngành lâm nghiệp nhường lại đất lâm nghiệp cho dân canh tác, làm sao để mỗi khẩu có chừng một đến hai héc-ta đất, may ra mới ổn định được đời sống. Đồng thời các tổ chức xã hội, chính quyền, đoàn thể... hãy hỗ trợ chúng tôi cây, con giống và phương thức canh tác”.
Ngoài thiếu đói về cái ăn ra, dân Vĩnh Ô còn đói về văn hóa. Từ bản Một, bản Hai và một nửa bản Ba thì có thể xem truyền hình qua vệ tinh hoặc đài Quảng Bình. Riêng đài Quảng Trị thì chưa phủ sóng tới. Đường lối, chủ trương của trên, của Tỉnh “dân chúng muốn biết mà không được”.
“Cách đây vài năm, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã trang bị cho mỗi bản một đài thu sóng F.M. Nhưng chỉ được mấy tháng đầu. Vài tháng sau... thì hình như nó không chịu nổi khí hậu, thời tiết vùng này, nên sinh ra đau yếu, kêu rột rẹt suốt ngày đêm, sau thì chết hẳn” - Hồ Sáu thật thà trả lời, thoáng nét hài hước.
-Vậy sao các anh không đề xuất với chính quyền và các cấp hỗ trợ thêm một số chương trình để dân bớt khổ ? Hồ Trường nhăn nhó: “Thực tình, cũng muốn đề xuất lắm chớ. Nhưng Quảng Trị là một tỉnh nghèo. Nên chúng tôi không dám đòi hỏi nhiều”.
Với lãnh đạo, lo ăn cho dân đã đủ mệt. May mà nhờ có trên đầu tư, hệ thông đường bê tông nông thôn đã tạm ổn. “Bây giờ cần nhất là hoàn thành tỉnh lộ 7 lên tới bản Tám. Làm sao để đến mùa lũ các em học sinh đi học, đau ốm, chợ búa không bị gián đoạn thì bà con mới yên tâm”-
Quảng Trị là tỉnh mà hai mươi năm được lịch sử chọn làm nơi đối đầu giữa miền bắc CNXH và tên đế quốc sừng sỏ nhất thế giới. Sau chiến tranh, mìn, bom, đạn sót lại nhiều như sỏi đá. Cơ sở vật chất cả tỉnh những ngày sau ngày 30- 4-1975 gần như bằng không. Năm 1976 sát nhập vào Bình - Trị -Thiên, sau hơn 20 năm kế tiếp trong phạm vi địa lý của một tỉnh gần như dài nhất nước, đến năm 1990 thì được Bình Trị Thiên cho “xuất hộ” tự lập. Khó khăn chồng chất khó khăn. Nhưng với quyết tâm và nghị lực, chính quyền và nhân dân địa phương đã xẻ núi, băng ngàn, làm nên con đường độc đạo cho nhân dân Vĩnh Ô thì quả là một kỳ tích rồi. Hiện cả tỉnh Quảng Trị chưa tới một triệu dân, nhưng người Vân Kiều và Pa Kô lên đến 76 nghìn người, chiếm gần 10 % dân số. Chính vì vậy mà nhân dân và chính quyền Quảng Trị rất khó khăn trong việc hỗ trợ cho miền núi nói chung.
“Người Vân Kiều chúng tôi luôn ghi nhận những cố gắng của nhân dân và chính quyền địa phương. Chúng tôi rất muốn chia sẻ bớt khó khăn với anh em người Kinh...”. Tôi nghe Bí thư Hồ Trường nói mà bần thần, xúc động. “Thương lắm người Vân kiều ơi!” Làm gì đây, để giúp những người dân nơi miền tây Tổ Quốc vơi tiếp bớt khó khăn.
Gặp lại Lê Nguyên Hồng và một số cán bộ mặt trận huyện Vĩnh Linh, tôi được biết: “Vĩnh Linh đã chủ trương mỗi cơ quan phải đỡ đầu hẳn một bản. Hãy trao cho họ chiếc cần câu! Hàng tháng, cán bộ, đoàn viên thanh niên, phụ nữ, nông dân... phải trực tiếp lên đó, để cầm tay chỉ việc. Làm sao để không bao lâu nữa, người dân phải thoát được đói, vượt được nghèo. Nhưng trước mắt những hộ đói nghèo thì nhất thiết phải cứu trợ hàng tháng, hàng quý.”
Hy vọng lắm, với nghị lực và bản lĩnh của những con người đã không sợ đạn bom, một lòng trung kiên với cách mạng, họ sẽ mạnh mẽ tiếp tục vươn lên trong cuộc chiến đấu mới chống giặc nghèo nàn, lạc hậu.