Việt Nam là một nước hàng đầu về xuất khẩu gạo

Ðổi mới sản xuất lúa - khởi động quá trình đổi mới nông nghiệp

Nghị quyết số 10 NQ/T.Ư về đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp là quyết sách có tác dụng trực tiếp, tạo ra những chuyển biến căn bản và sâu rộng trong quá trình phát triển nông nghiệp, nông thôn nước ta. Nghị quyết 10 là bước phát triển tất yếu của quá trình đổi mới, chủ trương giao cho nông dân quyền quản lý đối với đất đai và các tư liệu sản xuất chính, quyền chủ động lớn hơn trong tổ chức sản xuất, cơ hội lớn hơn để hưởng các sản phẩm làm ra. Về thực chất, đây là bước chuyển chủ thể quản lý từ hợp tác xã sang hộ gia đình. Nhìn lại giai đoạn khó khăn này, để thấy rằng, nhờ Ðảng và Nhà nước tháo gỡ các cơ chế trói buộc, cho nên đã giải quyết một bước quan trọng về lương thực. Năm 1988, nước ta tiếp tục phải nhập khẩu 199,5 nghìn tấn lương thực. Ðột nhiên năm 1989, nước ta xuất khẩu 1,4 triệu tấn gạo và liên tục đẩy mạnh xuất khẩu trong các năm tiếp theo. Mười năm sau, năm 1999, nước ta xuất khẩu gạo đạt 4,5 triệu tấn, đứng thứ hai thế giới về xuất khẩu gạo. Gạo Việt Nam đạt tốc độ tăng trưởng xuất khẩu 12%/năm. Và năm 2005, nước ta xuất khẩu đạt kỷ lục 5,2 triệu tấn, vượt hơn nhiều so với kế hoạch.

Có thể phân định quá trình đổi mới sản xuất lúa gạo ở nước ta trong thời kỳ đổi mới thành các giai đoạn tiêu biểu: Thời kỳ đầu đổi mới là những năm 1985-1990 sản xuất lúa nước ta tăng chủ yếu là nhờ tăng năng suất và tăng vụ. Chính sách đổi mới đã tạo động lực mạnh mẽ để nông dân đầu tư công sức, chăm bón. Cho đến năm 1990-2000 diện tích canh tác trồng lúa được mở rộng nhờ phát triển thủy lợi và khai hoang. Trong mười năm 1991-2000, diện tích sản xuất lúa gạo tăng liên tục từ 6,3 triệu ha lên 7,67 triệu ha. Trước nay, lúa gạo được tiến hành sản xuất rộng lớn trên khắp 64 tỉnh, thành phố, đều được gieo trồng ở cả ba vụ sản xuất. Trong quá trình hình thành và xây dựng đất nước, nước ta có hai vùng đồng bằng châu thổ lớn chủ yếu trồng lúa là đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long. Có thể cho rằng, trong những năm đổi mới hai vùng châu thổ này đã được xây dựng ngày một hoàn thiện, tạo sức bật cho sản xuất lúa gạo và cả ngành nông nghiệp. Ngoài những tác động to lớn nhờ đổi mới cơ chế, thúc đẩy sự tự chủ trong sản xuất của nông dân, thành tựu xuất khẩu gạo trong những năm đổi mới có được còn là nhờ chủ trương đúng đắn của Ðảng và Nhà nước về phát triển thủy lợi tại các đồng bằng châu thổ này. Hàng nghìn tỷ đồng đã được tập trung đầu tư thủy lợi ở đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long cho đến nay vẫn tiếp tục phát huy hiệu quả. Sản lượng lúa năm 2002 đạt 34 triệu tấn tăng so với năm 1991 là 14,4 triệu tấn (tăng 74,8%), bình quân mỗi năm tăng 1,225 triệu tấn. Ðây chính là thành tựu vượt bậc của hơn 10 triệu hộ nông dân cả nước cùng với các cấp, các ngành trung ương và địa phương. Một đất nước với mức dân số tăng gần 1,5 triệu người/năm và đã từng phải nhập khẩu lương thực đến một triệu tấn/năm, trong thời kỳ đổi mới bỗng vượt lên thành một nước mạnh về sản xuất lương thực và xuất khẩu gạo. Ðó là một minh chứng cho sự đổi thay kỳ diệu của đất nước trong những năm đổi mới.

Bức tranh nông nghiệp đã thay đổi

Cho đến nay, hiện trạng sản xuất lúa gạo của nước ta đã đổi thay rất nhiều. Mặc dù lúa vẫn là cây trồng chủ yếu của nông nghiệp Việt Nam, có vị trí hết sức quan trọng bảo đảm an ninh lương thực quốc gia, đóng góp khá lớn vào kim ngạch xuất khẩu nông sản (chiếm khoảng 25%) nhưng diện tích trồng lúa lại đang thu hẹp dần. Tính riêng về diện tích trồng lúa so với tổng diện tích gieo trồng chung cả nước năm 1991 chiếm tới 70%, đến năm 2001 còn 60%. Tuy nhiên, nhờ các tiến bộ khoa học được áp dụng, khả năng thâm canh của nông dân được nâng cao, cho nên năng suất, sản lượng lúa vẫn tăng. Năm 2001, diện tích lúa giảm 182 nghìn ha. Nhiều vùng đã chuyển đất một vụ lúa mùa, năng suất thấp, bấp bênh sang nuôi trồng thủy sản, trồng cây ăn quả, cây công nghiệp. Từ năm 2002 đến nay, diện tích trồng lúa liên tục giảm, nhường diện tích đất gieo trồng các loại cây khác hiệu quả hơn. Ðiển hình là năm 2005, diện tích lúa giảm 340 nghìn ha. Tuy nhiên, trong năm năm gần đây, mỗi năm sản lượng lúa vẫn tăng trung bình 700 nghìn tấn. Công cuộc chuyển dịch cơ cấu, trong đó việc quan trọng là giảm diện tích lúa chuyển sang các cây trồng khác cho lợi nhuận cao đang làm bức tranh nông nghiệp nước ta đổi thay từng ngày. Có thể nhận định công cuộc chuyển dịch cơ cấu kinh tế đã đi từ chiều rộng đến chiều sâu. Giá trị trên một ha đất canh tác tăng từ 17 triệu đồng/ha lên 24 triệu đồng/ha, bình quân cả nước sau năm năm (2000-2005). Riêng đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long đạt gần 40 triệu đồng/ha. Các sản phẩm nông nghiệp phong phú, đa dạng, thể hiện sự phát triển toàn diện của ngành nông nghiệp. Tổng kim ngạch xuất khẩu nông - lâm sản năm 2005 đạt 5,8 tỷ USD, tăng 29% so với năm trước, gấp hai lần kim ngạch năm 2001. Trong số các mặt hàng nông sản xuất khẩu chủ lực của nước ta, gạo vẫn chiếm vị trí quan trọng hàng đầu. Khi thị trường xuất khẩu nông-lâm sản mở rộng sang hơn 100 quốc gia và vùng lãnh thổ thì hạt gạo Việt Nam cũng đã có mặt hơn 40 nước. Hạt gạo Việt Nam cũng đã góp phần đưa vị thế nước ta ngày càng cao trên thế giới.

Ổn định thị trường lúa gạo, giữ vững an ninh lương thực quốc gia

Có được các thành tựu trong xuất khẩu gạo cũng phải ghi nhận thành tích của các đơn vị thu mua, xuất khẩu lương thực. Trong những năm qua, việc tiêu thụ lúa gạo hàng hóa cho nông dân đã huy động  được nhiều thành phần kinh tế tham gia. Ở miền bắc và miền trung việc mua trực tiếp lúa gạo của nông dân được phần lớn các hộ gia đình, cá nhân kinh doanh nhỏ thực hiện. Tuy nhiên, khi có hiện tượng "sốt giá" thì có sự can thiệp mạnh mẽ của doanh nghiệp nhà nước, trực tiếp là Tổng công ty lương thực miền bắc tham gia điều tiết thị trường. Hàng chục năm qua, thị trường lúa gạo miền bắc khá ổn định. Ngoài việc đẩy mạnh kinh doanh xuất khẩu tới các thị trường truyền thống, Tổng công ty lương thực miền bắc đã tham gia xuất khẩu gạo vào các thị trường khó tính trên thế giới như: Nhật Bản, Hàn Quốc, Malaysia, Indonesia... Bên cạnh đó, tổng công ty còn có nhiệm vụ quan trọng là đáp ứng nhu cầu lương thực cho các vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc miền núi. Ở vựa lúa đồng bằng sông Cửu Long, việc tiêu thụ lúa cho nông dân, ngoài các doanh nghiệp quốc doanh đóng vai trò chủ đạo còn có lực lượng đông đảo là các chủ vựa có phương tiện vận tải và kho chứa... Do có sự điều tiết của Nhà nước, việc nhanh chóng ban hành các chính sách hợp lý về tiêu thụ lúa gạo cho nông dân gắn với lợi ích doanh nghiệp... đã tạo nên một thị trường lúa gạo ổn định. Có thể nói, cả nước là một thị trường thống nhất, xóa bỏ mọi hình thức ngăn sông cấm chợ, chính sách cho nông dân vay vốn phát triển sản xuất, thâm canh, chính sách đầu tư thủy lợi, công nghiệp chế biến, tiêu thụ lúa gạo... đã góp phần quan trọng vào phát triển ngành lúa gạo nước ta.

Trong công cuộc đổi mới và phát triển kinh tế đất nước hôm nay, cần tiếp tục xác định vai trò quan trọng của việc sản xuất lúa gạo. Ðây là nhiệm vụ hàng đầu trong phát triển nông nghiệp ở bất kỳ giai đoạn lịch sử nào. Ðể giải quyết nhu cầu ăn của đất nước ta trong tương lai sẽ là 100 triệu người, giải quyết thức ăn cho chăn nuôi với nhu cầu ngày càng lớn về thịt, trứng, sữa, cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp, nhất là đối phó với khả năng xuất hiện khủng hoảng lương thực toàn cầu thì an toàn lương thực quốc gia vẫn là "chìa khóa" bảo đảm cho sự ổn định về chính trị, xã hội của đất nước. Với nhận thức đó, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã xây dựng chiến lược phát triển lúa gạo của Việt Nam trong thập kỷ đầu của thế kỷ 21 là: Phát triển sản xuất lúa gạo nhằm bảo đảm an ninh lương thực quốc gia theo hướng sản xuất hàng hóa, điều  chỉnh cơ cấu lúa gạo, nâng cao chất lượng, hạ giá thành, hình thành các vùng sản xuất lúa chất lượng cao, gắn chế biến và tiêu thụ, đáp ứng nhu cầu đa dạng trong nước về lương thực với dân số lên tới 90 triệu người vào năm 2010 và ổn định xuất khẩu về số lượng nhưng chất lượng và giá trị ngày một tăng. Từ nhận thức đó, mục tiêu cụ thể trong việc sản xuất lúa gạo nước ta là duy trì bốn triệu ha đất canh tác lúa; giữ ổn định sản lượng lúa đến năm 2010 là 36 triệu tấn. Duy trì xuất khẩu khoảng bốn triệu tấn gạo/năm. Xây dựng vùng sản xuất lúa xuất khẩu một triệu ha ở đồng bằng sông Cửu Long để sản xuất gạo đủ tiêu chuẩn xuất khẩu, nâng cao năng lực chế biến và kỹ năng kinh doanh để chiếm lĩnh thị trường quốc tế. Có một tín hiệu vui ngay trong quý I năm nay, các doanh nghiệp nước ta đã xuất khẩu được 1,5 triệu tấn gạo. Các hợp đồng đã ký là hai triệu tấn. Tổng giám đốc Tổng công ty lương thực miền bắc, Trần Bá Hoàn, khi trao đổi với chúng tôi còn khẳng định: "Việt Nam đã là một nước mạnh về xuất khẩu gạo. Lượng gạo chúng ta xuất khẩu chiếm gần một phần tư lượng gạo bán trên thị trường thế giới. Vì thế, không lẽ gì chúng ta lại không thể tiếp tục nâng cao vị thế hạt gạo Việt Nam trên trường quốc tế".

       NGÔ HỒNG GIANG
(Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn)

Có thể bạn quan tâm