Nhớ lại cách đây gần 40 năm, giữa thời kỳ chiến tranh phá hoại cực kỳ ác liệt và gian khổ, trong khi trùng trùng đoàn quân lên đường ra mặt trận chiến đấu bảo vệ miền bắc xã hội chủ nghĩa và chi viện quân dân miền nam tiếp tục thực hiện cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc, thống nhất Tổ quốc, Ðảng, Nhà nước đồng thời đã cho hàng vạn thanh niên, học sinh tiếp tục học đại học ở trong nước và nước ngoài, để sau này xây dựng đất nước. Ðó là sự chia tay đầy lưu luyến, người ra tiền tuyến, người về hậu phương lớn ở các trường đại học miền bắc và đi học ở các nước xã hội chủ nghĩa với cùng chung nhiệm vụ: đánh thắng giặc Mỹ, thống nhất đất nước, xây dựng đất nước nghìn lần to đẹp hơn. Những năm đó, ở Liên Xô, ở CHDC Ðức, Ba Lan, Tiệp Khắc... không ít lần các mẹ, các bác lớn tuổi đã nhìn chúng tôi, lứa tuổi học sinh ra đi năm ấy, với niềm thương cảm. Họ đã nghe, đã biết Việt Nam đánh thắng thực dân Pháp và đang chiến đấu chống đế quốc Mỹ xâm lược. Tình cảm của bạn bè các nước xã hội chủ nghĩa và lực lượng tiến bộ lúc đó là kính phục Việt Nam chiến đấu và chiến thắng, nhưng biết rằng Việt Nam là đất nước nghèo, bị chiến tranh tàn phá.
Năm 1975, Việt Nam Ðại thắng Mùa Xuân. Hòa trong dòng người mừng chiến thắng ở bên Hồ Gươm giữa thủ đô Hà Nội, tôi đã gặp lại một bà giáo già người Nga. Bà đã xúc động rơi nước mắt khi nói với tôi: "Hết chiến tranh rồi, bây giờ các em có thể xây dựng đất nước được rồi. Cô mừng quá! Chúc mừng Việt Nam! Chúc mừng các em!". Nhưng rồi lại tiếp đến một thời kỳ khó khăn. Những người trẻ tuổi, nhất là những ai sinh sau những năm 80 (giờ đây được gọi là thế hệ 8X), thật khó có thể hình dung đầy đủ bối cảnh đất nước khoảng hơn một thập kỷ sau năm 1975. Các thế lực thù địch cô lập Việt Nam về chính trị, tiến hành cấm vận kinh tế, rồi những cuộc chiến tranh biên giới, trong khi đất nước vẫn trăn trở về mô hình phát triển, kinh tế khủng hoảng, lạm phát phi mã... Các phương tiện thông tin đại chúng thiếu thiện chí ở bên ngoài ra rả rêu rao, bài bác hình ảnh Việt Nam. Những người có tâm huyết với đất nước. Nhiều người chúng ta lúc bấy giờ đều lấy làm may mắn khi có cơ hội làm một chuyến công du ra nước ngoài, đi học hoặc đi công tác, để rồi mua về một ít hàng hóa, quy đổi ra lương thực, xe máy "cứu nhà"...
Năm 1986, Ðại hội lần thứ VI đã đề ra đường lối đổi mới về kinh tế xã hội cùng với một đường lối đối ngoại mềm dẻo và linh hoạt, trong đó khẳng định "ra sức kết hợp sức mạnh của thời đại, phấn đấu giữ vững hòa bình ở Ðông Dương, góp phần tích cực giữ vững hòa bình ở Ðông - Nam Á và thế giới", tiếp tục xác định nhiệm vụ "... tranh thủ điều kiện quốc tế thuận lợi cho sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc", nhấn mạnh "cần có hòa bình để phát triển kinh tế". Ðây là những chuyển biến quan trọng đưa đến việc đổi mới nhận thức, quan điểm về việc giải quyết những vấn đề tranh chấp, phá vỡ thế bao vây, cấm vận, cải thiện quan hệ với các nước láng giềng và các nước lớn. Năm 1991, Việt Nam khai thông quá trình bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc, các nước ASEAN, EU, năm 1995 bình thường hóa quan hệ với Hoa Kỳ. Từ đó, chúng ta có đủ điều kiện và cơ hội để phát triển quan hệ, mở cửa, hội nhập cộng đồng quốc tế. Tuy nhiên, công cuộc đổi mới diễn ra chưa bao lâu thì Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Ðông Âu sụp đổ và tan rã, không chỉ đặt nước ta trước những khó khăn trở ngại mới, mà còn lay động tâm tư, tình cảm, niềm tin của một bộ phận lớn cán bộ, đảng viên và nhân dân, những người đã coi Liên Xô và hệ thống các nước XHCN anh em là thành trì bền vững. Song, với quyết tâm đưa đất nước thoát khỏi đói nghèo và tình thế bị cô lập, cấm vận, Ðảng ta đã dẫn dắt nhân dân ta thực hiện thành công công cuộc Ðổi mới.
Việt Nam ngày nay được biết đến không chỉ là Việt Nam chiến đấu, Việt Nam chiến sĩ, giờ đây, bạn bè khám phá ra một Việt Nam sáng tạo với nền văn hóa độc đáo, một Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển. Xét về thành tựu xóa đói, giảm nghèo, theo sự ghi nhận của LHQ, Việt Nam đã về đích trước 10 năm. Việt Nam đã giảm được 50% hộ đói nghèo, tương đương 20 triệu người, thật sự đã làm nên kỳ tích. Tuổi thọ trung bình của người Việt Nam được nâng lên 71,3 tuổi, giảm tỷ lệ tử vong của trẻ em dưới năm tuổi xuống gần 2/3. Thu nhập bình quân theo đầu người ở Việt Nam tăng 10 lần. Giờ đây, nhiều nhà lãnh đạo các quốc gia nhìn Việt Nam với cách nhìn hoàn toàn khác trước, đánh giá Việt Nam sẽ trở thành con rồng ở Ðông-Nam Á trong tương lai không xa. Quan hệ đối ngoại của đất nước được mở rộng hơn bao giờ hết. Tính đến nay, Việt Nam đã có quan hệ đối ngoại với 169 nước và trở thành thành viên tích cực của nhiều tổ chức quốc tế và khu vực. Nhiều nguyên thủ quốc gia các nước lớn như Hoa Kỳ, Trung Quốc, Nhật Bản, Nga... đã đến thăm Việt Nam. Việt Nam tổ chức nhiều sự kiện quốc tế lớn như Hội nghị các nước có sử dụng tiếng Pháp lần thứ 7 (1997), Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 6 (1998), ASEM (2004). Trong khi đó, chúng ta không quên những bạn bè truyền thống, tiếp tục phát triển các quan hệ chính trị, kinh tế, thương mại. Ðiều đáng ghi nhận là Việt Nam không còn chỉ là nước biết nhận viện trợ mà vươn lên thành đối tác thương mại lớn của EU với tốc độ phát triển nhanh chóng về mọi mặt. Ðặc biệt, chuyến thăm Mỹ của Thủ tướng Phan Văn Khải trong dịp kỷ niệm 10 năm thiết lập quan hệ ngoại giao Việt Nam - Hoa Kỳ là một thành công nổi bật. Sự kiện gây ấn tượng khó quên là Hội nghị cấp cao Á - Âu lần thứ 5 (ASEM-5). Trong bối cảnh thế giới trải qua nhiều biến động chính trị, kinh tế phức tạp, ASEM vẫn duy trì sức sống và động lực phát triển, kết nạp thêm 13 thành viên. Hình ảnh tiêu điểm là chính tại Hà Nội, chứ không phải nơi nào khác, quốc kỳ của 13 thành viên mới ASEM được kéo lên, tung bay trên bầu trời, đánh dấu sự mở rộng lần đầu tiên của ASEM sau tám năm kể từ khi ra đời. Hình ảnh ấn tượng tiếp theo là sự kiện gần 40 nguyên thủ các nước đi bộ trên Ðại lộ Ðộc lập sang Trung tâm Hội nghị quốc tế cho thấy Việt Nam thật thanh bình, ổn định và theo các đại biểu dự Hội nghị, việc này chỉ có thể thực hiện được ở Việt Nam, khi khủng bố đang là vấn đề đe dọa toàn cầu.
Vị thế của Việt Nam hiện nay đã khác hẳn. Người Việt Nam giờ đây đi ra nước ngoài với tư cách đi đàm phán bình đẳng về các vấn đề song phương và đa phương. Hình ảnh những nữ Ðại sứ Việt Nam với tà áo dài duyên dáng trình thư ủy nhiệm lên các nguyên thủ quốc gia không còn là hiếm. Cuộc sống tự do, phát triển đầy đủ về mọi mặt ở trong nước đã làm hài lòng nhiều người và cơ hội đi ra nước ngoài đôi lúc còn bị từ chối. Người Việt Nam với mức sống khá giả không còn bon chen tìm các chuyến công du xuất ngoại để có thu nhập đô-la, mà đang tự bỏ tiền đi du lịch nước ngoài, mở mang tầm mắt, thư giãn và bồi bổ kiến thức.
Thành tựu Ðổi mới càng khẳng định tiềm lực mọi mặt của đất nước, củng cố vị trí của Tổ quốc thân yêu trong lòng bà con người Việt làm ăn xa xứ. Trong số những người trở về thăm quê hương, có Hòa thượng Thích Nhất Hạnh, những hậu duệ của Lý Công Uẩn - Lý Thái Tổ lưu lạc sang Hàn Quốc cả nghìn năm trước đây, bây giờ nhiều lần trở về dâng hương ở Ðền Ðô. Họ tâm nguyện "Xin hãy coi tôi là người Việt Nam". Việt kiều Nguyễn Thành Bích ở Xi-át-tơn (Mỹ) có vinh dự mời Thủ tướng Phan Văn Khải đến thăm nhà, đã bộc bạch: Tôi có một may mắn không gì có thể so sánh. Ðược sinh ra, lớn lên ở Việt Nam, được nói tiếng Việt, được vinh dự làm người Việt.
Việt Nam, hai tiếng thiêng liêng giờ đây có thể thấy vang lên ở trên khắp toàn cầu, từ một nhà hàng Kim Sơn (Việt Nam) nổi tiếng ở Buốc-ki-na Pha-xô, miền Tây Phi xa xôi, đến hình ảnh người nghệ nhân làng Xuân La, xã Phượng Dực, huyện Phú Xuyên, Hà Tây ngồi nặn tò he giữa thủ đô Tô-ki-ô (Nhật Bản), hay một dịch giả Hàn Quốc đã hoàn thành công trình dịch và xuất bản Truyện Kiều của Việt Nam ra tiếng Hàn... Du lịch ngày càng trở thành ngành kinh tế quan trọng đối với Việt Nam. Lượng khách quốc tế đến Việt Nam mỗi năm một tăng, năm 2005 đạt 3,47 triệu. Năm 2006 này và khả năng những năm tới, lượng khách quốc tế đến Việt Nam sẽ còn tăng cao. Lượng khách đến Việt Nam du lịch chiếm tỷ trọng cao nhất và lượng khách đến vì công việc tăng cao nhất, góp phần tạo thành làn sóng đầu tư mới để vào Việt Nam... Lượng ngoại tệ thu được từ khách quốc tế đến nước ta năm 2003 là 2.193,2 triệu USD, năm 2004 là 2.643 triệu USD, năm 2005 là 3.130,4 triệu USD, khả năng năm 2006 sẽ đạt trên 3,6 tỷ USD. Lượng khách là Việt kiều về thăm thân nhân gia tăng, năm sau nhiều hơn năm trước, trong năm 2005 có hơn 400 nghìn lượt người về thăm trong đó có hàng trăm nghìn bà con về ăn Tết ở quê hương. Lượng kiều hối đổ về Việt Nam cũng mỗi năm một tăng, xấp xỉ lượng ODA, được các nhà tài trợ cam kết năm 2006 (3,7 tỷ USD). Có nhiều Việt kiều trở về tìm cơ hội đầu tư làm ăn, mua nhà đất, bởi một USD đầu tư ở Việt Nam có sức mua gấp nhiều lần sức mua tại Mỹ. Một cô bé cháu trong gia đình, theo mẹ đi định cư ở Mỹ từ đầu những năm 90, khi chỉ mới hơn 10 tuổi, mới đây về nước đã hồn nhiên tâm sự: Ở bên kia, cháu lên mạng biết ở Việt Nam mình giờ đây cho Việt kiều mua nhà, mua đất. Cháu muốn về làm ăn ở Việt Nam và thấy mọi việc có vẻ dễ dàng.
Không những thế, việc Việt Nam được chọn làm nước chủ nhà Hội nghị cấp cao Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC) lần thứ 14, tháng 11 năm nay chứng tỏ vị trí vững chắc của nước CHXHCN Việt Nam và Ðảng CS Việt Nam và cho thấy Việt Nam đang nỗ lực hội nhập quốc tế. Chúng ta cũng đang tích cực thúc đẩy tiến trình vất vả nhưng thuận lợi đàm phán với các đối tác còn lại để gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), theo các chuyên gia kinh tế hàng đầu thế giới, sẽ có tiếng nói quan trọng trong các diễn đàn kinh tế quốc tế, trở thành hoặc tiến rất gần đến tiêu chuẩn nước có thu nhập trung bình.
Qua 20 năm đổi mới, thế và lực của nước ta đã được tăng cường. Trước mắt chúng ta tuy còn nhiều khó khăn, thách thức, nhưng với vị thế của Việt Nam hiện nay, chúng ta tự hào vững bước, quyết tâm đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển, tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại.