Nằm ở tâm vùng kinh tế trọng điểm phía nam, TP Hồ Chí Minh là nơi thu hút nhiều vốn FDI nhất, đồng thời tạo việc làm cho hàng chục nghìn lao động, đóng góp vào sự tăng trưởng chung của thành phố và cả nước. Bên cạnh đó, vẫn còn hàng trăm doanh nghiệp FDI lợi dụng kẽ hở pháp luật Việt Nam liên tục nhiều năm báo lỗ, gây thất thu thuế cho Nhà nước và làm méo mó môi trường kinh doanh. Thống kê của Cục Thuế thành phố cho thấy, tổng số lỗ của các doanh nghiệp giai đoạn (2006 - 2010) hơn 30 nghìn tỷ đồng thì doanh nghiệp FDI chiếm 61,3%. Năm 2009, số doanh nghiệp FDI khai lỗ giảm, nhưng vẫn ở mức 60%, trong đó 90% là doanh nghiệp dệt may, da giày. Năm 2010, có hơn 50% số DN có vốn FDI báo lỗ, có doanh nghiệp lỗ nhiều hơn vốn pháp định, nhưng vẫn hoạt động.
Ðiều không bình thường là phần lớn các doanh nghiệp FDI báo cáo làm ăn thua lỗ, nhưng doanh thu lại liên tục tăng, thậm chí còn mở rộng sản xuất. Chẳng hạn, Công ty TNHH Carimax Sài Gòn (Củ Chi), chuyên may ba-lô, túi xách, doanh thu khoảng 500 tỷ đồng, nhưng 10 năm qua chưa năm nào có lãi. Công ty TNHH Orange Fashion (quận Tân Bình) doanh thu năm 2005 là 40 tỷ đồng, lỗ 3,7 tỷ đồng; năm 2007, doanh thu 342 tỷ đồng, lỗ 28 tỷ đồng. Riêng tháng 1-2010, doanh thu 29 tỷ đồng vẫn lỗ hơn 220 triệu đồng. Công ty TNHH Ðông Nam, huyện Hóc Môn từ năm 2005 đến nay chưa có lãi, mặc dù doanh thu từ 10 tỷ đồng, (2005) tăng lên 60 tỷ đồng (2009), nhưng vẫn lỗ 1,7 tỷ đồng.
Ðạt kỷ lục lỗ nhiều năm và lỗ lớn là Công ty Pou Yuen Việt Nam, tại KCN Tân Tạo, hoạt động từ năm 1996, gồm tám khu chuyên sản xuất thiết bị, dụng cụ thể thao, sử dụng gần 70 nghìn công nhân, doanh thu từ 10 triệu USD (1998), tăng lên gần 550 triệu USD (2008), nhưng năm lỗ ít nhất hơn 500 nghìn USD, năm lỗ cao nhất gần 10 triệu USD (tính tròn). Nếu thống kê hết, ở TP Hồ Chí Minh có hàng trăm doanh nghiệp FDI khai lỗ, năm nào 'có được chút lãi' thì lại chuyển lỗ từ các năm trước qua khấu trừ, kết cục các doanh nghiệp FDI luôn trong tình trạng 'mắc bệnh lỗ kinh niên'.
Lý giải hiện tượng bất thường này, ông Nguyễn Trọng Hạnh, Cục phó Cục Thuế TP Hồ Chí Minh khẳng định, phần lớn các doanh nghiệp FDI đều làm ăn có lãi. Cứ nhìn việc họ tăng vốn, mở rộng sản xuất, doanh thu tăng thì không thể lỗ được. Các doanh nghiệp FDI tại Việt Nam chỉ biết sản xuất, còn việc hạch toán giá thành sản phẩm thế nào do công ty mẹ tại quốc gia có thuế suất bằng không (=0), hoặc rất thấp, điều khiển. Ðây là hình thức chuyển giá được các doanh nghiệp FDI áp dụng hiệu quả tại Việt Nam những năm qua.
Thủ thuật chuyển giá đơn giản nhất là doanh nghiệp FDI đẩy giá nhập máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu lên cao. Chẳng hạn, giá trị thực của dây chuyền may là một triệu USD, nhưng khi vào Việt Nam họ nâng thành hai triệu USD. Căn cứ vào giá trị ảo này doanh nghiệp tính khấu hao tài sản và việc lỗ là tất yếu. Một hình thức khác tự làm cho doanh nghiệp 'lỗ' là, doanh nghiệp FDI tính định mức tiêu hao sản phẩm cao hơn bình thường, như khi may một áo sơ-mi cần hai mét vải, trị giá 20 USD, nhưng họ tăng thành 2,5 mét, giá 25 USD và tự lỗ 5 USD. Giá thành sản phẩm cũng được doanh nghiệp FDI tính thấp hơn giá thị trường. Thí dụ, tiền nguyên vật liệu, tiền gia công... một đôi giày là 10 USD, giá xuất bán cho công ty mẹ chỉ còn 8 USD, doanh nghiệp tự nguyện lỗ 2 USD. Ngoài ra, việc nâng giá, chi phí ăn ở, đi lại cho chuyên gia cũng được kê lên rất cao. Tất cả các 'chi phí có tính toán' này làm doanh nghiệp FDI lỗ đơn, lỗ kép.
Tuy nhiên, các công ty mẹ ở nước ngoài thu lãi lớn nhờ thủ thuật bán nguyên liệu đầu vào cho công ty con ở Việt Nam với giá cao, mua lại thành phẩm với giá thấp. Ðiều này giải thích tại sao phần lớn các doanh nghiệp FDI ở Việt Nam dù liên tục khai lỗ, nhưng vẫn bán hàng cho một vài đầu mối của họ ở những quốc gia có thuế suất, thuế thu nhập doanh nghiệp thấp, hoặc bằng không (=0). Tình trạng lỗ kéo dài của các doanh nghiệp FDI không những làm Nhà nước thất thu thuế, mà còn mất đi một lượng lớn ngoại tệ để nhập nguyên liệu, máy móc cao hơn giá trị thực của nó.
Theo Cục Thuế TP Hồ Chí Minh, ngành thuế cũng đã phát hiện được thủ thuật trốn thuế của các doanh nghiệp FDI, nhưng khó chứng minh, vì có sản phẩm trung gian, có sản phẩm tiêu thụ ở nước ngoài. Hơn nữa, do luật pháp nước ta chưa có định chế xác định giá nào là hợp lý, cho nên những hình thức chuyển giá, nâng chi phí của các doanh nghiệp FDI dù ngành thuế biết, nhưng thiếu căn cứ pháp lý để can thiệp.
Thực tế, đến thời điểm này, ở Việt Nam vẫn chưa có luật chống chuyển giá, ngay cả Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp cũng chưa chặt chẽ để quản lý và chế tài những hành vi gian lận. Nhiều thông tư, văn bản hướng dẫn còn chồng chéo, mâu thuẫn, thiếu đồng bộ, phụ thuộc vào giải thích của cơ quan chủ quản.
Cục Thuế TP Hồ Chí Minh kiến nghị Nhà nước sớm có biện pháp điều chỉnh, bãi bỏ các văn bản pháp luật không phù hợp với thực tế. Quy định doanh nghiệp FDI được lỗ mấy năm hay lỗ dưới vốn điều lệ thì phải ngưng hoạt động. Việc kê khai giá đầu vào, đầu ra của các doanh nghiệp phải tương đương với giá của khu vực và thế giới; có thể tham khảo giá xuất nhập khẩu của các doanh nghiệp cùng ngành nghề trong nước để làm chuẩn. Từ thực tế khai lỗ nhiều năm của các doanh nghiệp FDI hiện nay, Nhà nước cần tổng kết, đánh giá chiến lược thu hút đầu tư FDI thời gian qua, từ đó có chiến lược tái cấu trúc nền kinh tế, phân luồng đầu tư hợp lý, chọn lọc những ngành, những công nghệ hiện đại mang lại giá trị gia tăng cao, đưa đất nước phát triển bền vững.