Gần 150 năm trước, trào lưu đô thị hóa bắt đầu ở châu Âu, lan sang châu Mỹ những năm cuối thế kỷ 19 và châu Á là những năm 60, 70 thế kỷ 20, đều là hệ quả tự nhiên của quá trình hiện đại hóa đất nước qua cuộc cách mạng công nghiệp. Trước đó nữa, sự chuyển biến các chức năng đô thị thời kỳ giao lưu hàng hóa, tiền tệ đã xuất hiện hàng loạt nhà ga mới, hệ thống hạ tầng giao thông, điện nước, các phương thức xây dựng mới và vật liệu bê-tông, sắt, thép với các chủ đầu tư mới, làm thay đổi bộ mặt của đô thị, kiến trúc thế giới.
Chỉ trong thế kỷ 20, các nước phát triển đã chuyển gần như 80, 90% số dân cư trú từ nông thôn sang cư trú ở đô thị, đưa số người sống trong đô thị hiện nay chiếm tỷ lệ 50% dân số của trái đất (hơn 3 tỷ người chỉ trong một thế kỷ). Trong trào lưu đô thị hóa, không có điểm khởi đầu rõ ràng nhưng chính cuộc cách mạng công nghiệp đã chuyển hóa cả thành thị và nông thôn một cách sâu sắc và toàn diện.
Khác với nước ta, nhiều nước phát triển có cả hàng trăm năm để xây dựng nếp sống, văn minh đô thị. Họ có đô thị với những cư dân đã quen đi làm theo thời gian biểu của nhà máy, công xưởng và đi lại bằng các phương tiện công cộng. Họ quen với các chức năng chung của đô thị và coi trọng giá trị công ích của đô thị hơn lợi ích cá nhân và hình thành văn hóa đô thị trong nhiều thế hệ.
Trong khi đô thị hóa là hệ quả tự nhiên của công nghiệp hóa thì ở nước ta lại thấy sự đảo ngược có nghĩa là đô thị hóa xảy ra nhiều năm trước công nghiệp hóa; điều đó khiến cho các mô hình và tư duy đô thị bất cập với thực tiễn. Chưa cần phân tích sâu nguyên nhân dẫn tới hiện tượng này nhưng ai cũng nhận thấy đô thị ở ta càng phát triển thì càng bộc lộ nhiều yếu kém, gây tác hại lâu dài, với các căn bệnh của đô thị như giao thông, nước thải sinh hoạt, di dân tự do, xây dựng không phép... và trầm kha nhất là công tác hoạch định đô thị chưa thật sự là đối tượng được quan tâm hàng đầu.
Nhìn chung, quy hoạch đô thị ở ta hiện nay chưa phải là phục vụ nhu cầu và thói quen của đại bộ phận dân cư, và thiếu tính hệ thống và điều tiết chung giữa các bộ phận đô thị.
Thực tế ở một số thành phố lớn như TP Hồ Chí Minh, Hà Nội, nơi có hàng trăm nghìn người đang sống chen chúc trong các ngõ hẻm tối tăm, hiện không được thỏa mãn nhu cầu tối thiểu về nhà ở, việc làm, chưa nói đến các nhu cầu dịch vụ giáo dục, chăm sóc sức khỏe, nước sạch và hạ tầng kỹ thuật...
Các khu đô thị mới hiện nay chỉ phát triển nhiều ở ngoại vi trung tâm và vốn là các dự án nhỏ lẻ, không đồng bộ, hầu như chỉ xây nhà ở để bán. Nhiều khu đô thị thiếu trường học, bệnh viện, chợ búa... nên cư dân vẫn đổ vào các trung tâm cũ theo giao thông hướng tâm để đi làm và đi tới các khu dân cư khác. Ðiều này trở nên nan giải khi dòng người nhập cư không chính thức từ nông thôn ra thành phố càng tăng trong diễn biến đô thị hóa toàn diện hiện nay ở nước ta.
Hà Nội có nhiều công trường quy mô lớn như: nút giao thông Ô Chợ Dừa, Ngã tư Sở, Ngã tư Vọng, các khu đô thị mới lớn nhỏ bám vào vành đai 2, 3... Có quá nhiều vấn đề trong "cơ thể" đô thị ọp ẹp (giao thông tắc nghẽn, hạ tầng xuống cấp, di dân, giải phóng mặt bằng, tái định cư gặp khó khăn...). Song song với nó là sự xây cất quá nhiều ở khu phố cổ - nguy cơ Hà Nội sẽ phá hỏng khu phố này.
Bước ra vùng ven đô chỉ cần nhìn lướt hai bên đường cũng cảm nhận thấy sự "phá vỡ" cảnh quan của nhiều vùng nông thôn vốn xưa có cấu trúc thanh bình giữa cánh đồng và làng. Hiện trạng bê-tông hóa, mạnh ai nấy làm, như xây dựng ven lộ, ven đê, ven đường cao tốc đã bộc lộ sự không theo kịp của những hoạch định quy hoạch nông thôn thời hội nhập và phát triển.
Theo các số liệu của Hiệp hội đô thị Việt Nam tháng 9-2006, các tổ chức quốc tế dự báo tỷ lệ đô thị hóa ở Việt Nam đến năm 2020 đạt 60% chứ không phải là 45% như trong chiến lược phát triển đô thị dự kiến. Theo kết quả điều tra dân số năm 2004, mỗi năm có khoảng 1 triệu người nhập cư vào các thành phố. Riêng TP Hồ Chí Minh, trong khi dân số là 6.109.251 người, dân nhập cư chiếm 28,9%, chưa kể số người nhập cư không chính thức. Theo TS W.Frehner, trưởng đại diện Viện Konrad - Adenouer tại Việt Nam: Ðến năm 2020 số dân Việt Nam sẽ tăng khoảng hơn 100 triệu và trong đó, 70%, tức 70,84 triệu người, sẽ sống trong các đô thị. Họ sẽ cư trú và làm việc tại đâu, phân bố trong mạng lưới đô thị toàn quốc hay tập trung vào các thành phố lớn để hình thành các đô thị 20, 30 triệu dân như Sao Paulo và Mexico city? Ðây thật sự là thách thức lớn của thời đại (!).
Từ khi chuyển sang cơ chế thị trường, kiến trúc Việt Nam đã đổi thay mạnh mẽ. Ðô thị hóa rộng khắp và các dự án mọc lên như nấm (sau 1996). Các loại hình kiến trúc của thời kỳ phát triển này là nhà chia lô, khách sạn, văn phòng cho thuê, khu công nghiệp, khu chế xuất tập trung và các khu đô thị mới cao tầng. Nhưng về phong cách và tính thẩm mỹ, thậm chí về công năng lại có phần tụt hậu đáng kể so với thời kỳ trước. Ở các khu đô thị lớn, do hệ quả của dự án, thành phố đã bị xé lẻ thành những mảnh riêng biệt, ngôn ngữ kiến trúc vụn vặt chắp vá, tính tổng thể xưa kia vốn là nền tảng cho vẻ đẹp đô thị nay bị phá vỡ, làm tổn hại nặng nề đến bộ mặt thành phố.
Hệ quả của sự bơ vơ về tư duy sáng tác của kiến trúc hiện nay thể hiện sự hẫng hụt trong học thuật và lý luận đô thị, kiến trúc. Kiến trúc thời bao cấp không còn đáp ứng được nhu cầu xã hội và kiến trúc mới chưa kịp ổn định thì gặp phải làn sóng dự án đầu tư vì mục đích thương mại. Sẽ là quá muộn nếu chúng ta không có những quyết sách đúng đắn về đô thị hóa ở Việt Nam.
Việc đầu tiên cần làm là đổi mới nhận thức về đô thị hóa trong cơ quan quản lý Nhà nước và nên bắt đầu từ nhu cầu thực tiễn to lớn của đô thị hóa để hoạch định đường lối, chính sách, chiến lược và quy hoạch cho đô thị tương lai ở nước ta. Cần lựa chọn các mô hình định cư tiến bộ cho đô thị và nông thôn, phù hợp hoàn cảnh nước ta trong giai đoạn công nghiệp hóa và hiện đại hóa và mọi việc cần được nghiên cứu ứng dụng ngay.
Lập các quyết sách cho phát triển đô thị cần có dữ liệu khoa học để cân đối nguồn tài nguyên đất, tài nguyên nước, sử dụng năng lượng sạch và bảo vệ môi trường. Nguồn lực đô thị và sự dịch chuyển kinh tế đô thị cần được xem xét để sự tăng trưởng kinh tế đồng bộ với chất lượng sống cho dân cư đô thị.
Xem xét lại các quy trình thực hiện các dự án đô thị, kiến trúc cũng như những quy định bất cập với thực tiễn để đẩy mạnh công tác chuẩn bị đầu tư xây dựng đô thị. Các ý kiến chuyên môn của các nhà thiết kế góp phần quan trọng tới chất lượng của các sản phẩm đô thị, kiến trúc. Vì thế cần đẩy mạnh công tác lý luận và cập nhật các phương tiện kỹ thuật, công nghệ mới cho đô thị, bởi nhiều đô thị mới hầu như không áp dụng phương pháp xây dựng công nghiệp hóa nên còn lạc hậu và lãng phí, trong khi trình độ các công ty xây dựng ở ta còn nhiều bất cập.
Việc đào tạo nguồn nhân lực cho đô thị cần được xem là cấp bách. Ðặc biệt từ khâu đào tạo tại các trường đại học, cao đẳng và dạy nghề. Không nên cứ bao cấp cho các trường đại học như hiện nay, nhưng lại để tình trạng nội dung đào tạo xa rời với thực tiễn phát triển đô thị. Việc thị trường hóa đào tạo nhân lực sẽ là động lực để các trường đại học tìm kiếm các nội dung kiến thức mà xã hội cần và được xã hội đánh giá và công nhận; từ đó, tạo nguồn lực cho việc đào tạo nhân lực cần thiết cho đô thị.