UTH: Kết nối giữa nghiên cứu với thực tiễn trong các dự án hạ tầng

Việt Nam đang bước vào giai đoạn tăng tốc phát triển hạ tầng giao thông với nhiều dự án quy mô lớn như đường sắt tốc độ cao, metro, logistics hiện đại; yêu cầu đặt ra không chỉ là nguồn lực đầu tư mà còn là năng lực làm chủ khoa học, công nghệ.

UTH là đơn vị tiên phong trong việc nghiên cứu và đào tạo về đường sắt tốc độ cao và đô thị.
UTH là đơn vị tiên phong trong việc nghiên cứu và đào tạo về đường sắt tốc độ cao và đô thị.

Trong bối cảnh đó, bài toán đưa các công trình nghiên cứu, sáng tạo đi vào thực tiễn, trở thành động lực trực tiếp cho phát triển luôn được các đơn vị chú trọng.

Rút ngắn khoảng cách giữa nghiên cứu và thực tiễn

Tại Trường đại học Giao thông vận tải Thành phố Hồ Chí Minh (UTH), vấn đề này được triển khai đồng bộ, hiệu quả. Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Tiến Thủy, Phó Hiệu trưởng UTH cho biết: Trước yêu cầu phát triển các lĩnh vực trọng điểm như đường sắt tốc độ cao, đường sắt đô thị, logistics hiện đại, giao thông thông minh và các ứng dụng kinh tế tầm thấp phục vụ quản lý, khai thác, giám sát hạ tầng đô thị, nhà trường xác định vai trò là “ba điểm kết nối”.

Thứ nhất, kết nối đào tạo với nhu cầu nhân lực mới, cấp thiết của quốc gia, thông qua chủ động cập nhật chương trình, tăng cường thực hành tại doanh nghiệp, năng lực số, ngoại ngữ và tư duy hệ thống cho người học.

Thứ hai, kết nối nghiên cứu với thực tiễn, hướng các đề tài vào những bài toán cụ thể về kỹ thuật, quản lý, vận hành và chính sách từ doanh nghiệp, địa phương và các dự án lớn.

Thứ ba, kết nối nguồn lực để nâng cao năng lực đổi mới sáng tạo, thông qua hợp tác trong nước và quốc tế, phát triển phòng thí nghiệm liên kết trọng điểm quốc gia, nhóm nghiên cứu mạnh và năng lực chuyển giao công nghệ. "Chúng tôi hướng tới trở thành trung tâm khoa học công nghệ giao thông vận tải theo định hướng ứng dụng, gắn chặt với nhu cầu phát triển đất nước", Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Tiến Thủy cho biết.

Chia sẻ về những đóng góp trong công tác nghiên cứu đối với những dự án lớn như đường sắt tốc độ cao, metro hay logistics, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Tiến Thủy cho rằng: Trong lĩnh vực đường sắt, các nghiên cứu có thể hỗ trợ từ quy hoạch tuyến, thiết kế nhà ga, xử lý nền đất yếu, đến tổ chức thi công, vận hành và bảo trì.

Đặc biệt, yêu cầu làm chủ công nghệ cốt lõi là rất cấp thiết khi Việt Nam chuẩn bị triển khai các dự án quy mô lớn. Với logistics, nghiên cứu góp phần tối ưu hóa vận tải đa phương thức, nâng cao hiệu quả chuỗi cung ứng, giảm chi phí.

Những hướng như số hóa logistics cảng biển, kho bãi thông minh hay phân tích dữ liệu lớn sẽ là chìa khóa. Quan trọng hơn, các nghiên cứu không dừng ở mô hình hay bài báo, mà phải đi vào thực tiễn vận hành, giải quyết các bài toán cụ thể của doanh nghiệp và địa phương.

Thúc đẩy ứng dụng các nghiên cứu vào công trình, dự án

Hội thảo khoa học quốc gia CTST 2026 được tổ chức tại Trường đại học Giao thông vận tải Thành phố Hồ Chí Minh là dịp để giới chuyên gia, nhà khoa học, nhà nghiên cứu chia sẻ về công tác phát triển hạ tầng giao thông với nhiều dự án quy mô lớn như đường sắt tốc độ cao, metro, logistics hiện đại.

Đại diện lãnh đạo UTH cho rằng: Điểm nhấn quan trọng nhất của CTST 2026 là tăng cường kết nối giữa nghiên cứu khoa học, đổi mới công nghệ với nhu cầu phát triển hạ tầng trọng điểm của đất nước.

Việt Nam đang ở giai đoạn then chốt trong phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông, từ đường sắt tốc độ cao, metro đến logistics cảng biển, giao thông thông minh và hạ tầng số. Hội thảo không chỉ là diễn đàn học thuật, mà còn là cầu nối giữa nhà trường, viện nghiên cứu, doanh nghiệp và cơ quan quản lý.

Trọng tâm không dừng ở công bố kết quả nghiên cứu, mà hướng tới thúc đẩy ứng dụng vào các công trình, dự án cụ thể, phục vụ trực tiếp yêu cầu phát triển quốc gia.

Chia sẻ về các rào cản khiến nhiều nghiên cứu trong ngành giao thông vận tải chưa đi vào thực tiễn, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Tiến Thủy cho rằng: Rào cản lớn nhất là sự kết nối giữa nghiên cứu và nhu cầu thực tiễn chưa đủ chặt chẽ.

Nhiều đề tài còn xuất phát từ logic học thuật hơn là từ bài toán thực tế, nên khó chuyển hóa thành giải pháp ứng dụng; bên cạnh đó là thiếu cơ chế hợp tác dài hạn giữa nhà trường, doanh nghiệp và cơ quan quản lý.

Ngoài ra, cách đánh giá kết quả nghiên cứu còn nặng về số lượng công bố, chưa chú trọng đầy đủ đến giá trị ứng dụng. CTST 2026 kỳ vọng sẽ thúc đẩy các nghiên cứu đi vào thí điểm, ứng dụng và kiểm chứng trong thực tế, qua đó tạo ra giá trị thiết thực cho phát triển ngành.

Đứng ở góc độ nhà quản lý giáo dục, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Tiến Thủy đặt rất nhiều kỳ vọng vào lực lượng trẻ; trong 10-20 năm tới, họ sẽ là lực lượng trực tiếp đảm nhiệm các dự án lớn của ngành giao thông vận tải.

Đối với sinh viên, nghiên cứu khoa học cần gắn với việc rèn luyện năng lực giải quyết vấn đề thực tiễn. Các em cần tiếp cận công trường, doanh nghiệp, hệ thống giao thông thực tế. Đối với các nhà khoa học trẻ, cần có nền tảng chuyên môn vững, đồng thời mở rộng sang các lĩnh vực liên ngành như trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, vật liệu, năng lượng và môi trường.

Nếu dám theo đuổi những vấn đề lớn, kiên trì làm chủ công nghệ cốt lõi và gắn bó với nhu cầu của đất nước, lực lượng trẻ sẽ đóng vai trò quan trọng trong tiến trình hiện đại hóa ngành giao thông vận tải Việt Nam.

Tại UTH, với mô hình “Học kỳ doanh nghiệp” được triển khai hiệu quả thời gian qua đã khẳng định đây không chỉ là hoạt động bổ trợ mà là trụ cột trong chiến lược đào tạo, được triển khai bài bản với nhiều đối tác lớn trong và ngoài nước giúp sinh viên “thực chiến” ngay với các công trình, dự án lớn của đất nước.

Có thể bạn quan tâm