Ứng dụng thành công lò nung gạch đốt trấu liên tục

Mặt khác, tại vùng này, việc sản xuất gạch, ngói chủ yếu vẫn sử dụng các lò thủ công, gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng. Ðể góp phần khắc phục tình trạng ô nhiễm do hai tác nhân trên gây ra, An Giang đã tiếp nhận chuyển giao công nghệ và cải tiến, ứng dụng thành công lò nung gạch đốt trấu liên tục kiểu mới của Thái-lan, đem lại hiệu quả thiết thực.

An Giang là một trong những tỉnh có nghề làm gạch, ngói phát triển lâu đời nhất tại đồng bằng sông Cửu Long. Hiện tỉnh có 607 cơ sở sản xuất gạch, ngói với gần 1.700 miệng lò, tập trung nhiều nhất ở các huyện Chợ Mới, Châu Thành, Châu Phú, giải quyết việc làm ổn định cho hơn 8.000 lao động/năm (vào thời vụ chính, lực lượng lao động có thể lên đến 14.000 người). Theo ghi nhận, hầu hết các lò gạch đều nằm xen lẫn hoặc gần khu dân cư và gần như 100% các lò gạch, ngói ở An Giang đều làm theo phương pháp thủ công, sử dụng trấu để nung gạch. Trong quá trình nung, khói đen, các loại khí độc như HF, Co, CO2, bụi từ các miệng lò ngày đêm phả ra môi trường, ảnh hưởng nặng nề đến đời sống, sinh hoạt của người dân. Ngay cả cây cối, vườn tược cũng bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Chưa kể, lao động trong các lò gạch thủ công phải làm việc trong môi trường không an toàn, đã có không ít tai nạn do máy ép gạch, ép đất gây ra; người lao động làm việc trong điều kiện nóng bức, khói bụi...

Về vấn đề này, các chủ cơ sở sản xuất gạch, ngói cũng phải thừa nhận. "Chúng tôi là những chủ lò cũng cảm thấy rất khó chịu mỗi khi đốt lò, nhưng biết làm sao được, chỉ mong ngành chức năng có giải pháp giúp cải tiến kỹ thuật chứ đóng cửa thì dân cả vùng này sẽ chẳng biết làm nghề gì", bà Hà Thị Bích Vân, chủ cơ sở sản xuất gạch Năng Gù ở Châu Phú, An Giang nói.

Tại An Giang cũng như các địa phương khác thuộc vùng đồng bằng sông Cửu Long, có rất nhiều cơ sở chế biến lúa gạo. Từ các cơ sở này, một lượng rất lớn phế thải (trấu) thải ra mà cho tới nay vẫn chưa có cách giải quyết hiệu quả, thường thải ra kênh rạch hoặc đem đốt, vừa lãng phí, vừa gây ô nhiễm môi trường. Nhằm hạn chế tình trạng gây ô nhiễm môi trường và tận dụng nguồn trấu phế thải rất dồi dào, đồng thời góp phần khắc phục ô nhiễm do các lò nung gạch, ngói thủ công gây ra, Dự án "Nghiên cứu cải tiến lò nung gạch đốt trấu ở đồng bằng sông Cửu Long" do Bộ Khoa học và Công nghệ phối hợp với Cơ quan Hợp tác Phát triển quốc tế Thụy Ðiển (SIDA) tài trợ, đã ứng dụng lò nung gạch đốt trấu liên tục của Thái-lan chế tạo cho tỉnh An Giang nhằm hạn chế tình trạng gây ô nhiễm môi trường, nhờ tận dụng nguồn trấu phế thải, phụ phẩm sẵn có trên địa bàn. Lò vận hành theo nguyên lý ứng dụng công nghệ lò Hốp-man (công nghệ lò nằm, có ống khói cao, lọc khói qua nước và sử dụng nhiều loại nguyên liệu). Lò được xây theo dạng hình vuông, có bốn buồng đốt, mỗi buồng đốt chứa 2.300 - 2.500 viên gạch, thời gian nung cho mỗi buồng từ 10 đến 12 giờ tùy theo loại đất.

Nguyên lý hoạt động của loại lò này là khi vận hành buồng nung, chế độ cháy trong buồng nung được điều chỉnh dần dần cho đến khi gạch trong buồng nung đạt độ chín. Công nhân có thể theo dõi nhiệt bằng cách nhìn qua lỗ quan sát lửa hoặc bằng đồng hồ đo nhiệt. Trong khi tiến hành nung gạch ở buồng đầu tiên, buồng kế cận tiến hành nung sơ bộ, không khí nóng sau khi qua buồng nung sơ bộ sẽ đi vào buồng sấy. Như vậy, khí thải ra từ buồng nung sẽ đi qua buồng nung sơ bộ và buồng sấy trước khi ra bên ngoài cho nên có nhiệt độ thấp, do đó khả năng tận dụng nhiên liệu rất cao. Bên cạnh đó do khi thải đi qua hai khối gạch của hai buồng kế cận sẽ có hiện tượng lọc sơ bộ, vì thế khí thải khi ra ngoài môi trường sẽ giảm ô nhiễm. Do đặc thù của lò được vận hành liên tục (đốt từng buồng) nên tận dụng được nhiệt ở đầu ra để sấy gạch mộc ở buồng kế cận và có thể lấy nhiệt ở buồng làm nguội để sấy nóng không khí trước khi đi vào buồng nung. Do đó, lò đạt hiệu suất nhiệt khá cao và tiết kiệm nhiên liệu. Mỗi lò đơn cần có diện tích tối thiểu là 100 m2; công suất lò nung là 4.000 - 5.000 viên/ngày đêm, tỷ lệ gạch sau khi nung đạt loại I > 95%, định mức tiêu hao nhiên liệu < 0,25 kg trấu/kg gạch sau nung; chất lượng khí thải đạt tiêu chuẩn TCVN 5939:2005 (có hệ thống xử lý).

Ðể bảo vệ môi trường, tỉnh An Giang đã xác định  lộ trình chuyển đổi cho nghề sản xuất gạch, gốm. Theo đó, từ cuối năm 2008, tỉnh này không cho mở rộng, xây dựng mới lò gạch, ngói sử dụng công nghệ thủ công. Năm 2009, bắt buộc trên 100 cơ sở với khoảng gần 400 lò gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng (ô nhiễm cấp 1) nằm trong khu vực dân cư đông đúc, trường học, trạm y tế phải di đời; chuyển đổi sang công nghệ tiên tiến không gây ô nhiễm môi trường với chính sách hỗ trợ, ưu đãi về công nghệ, vốn và đào tạo. Năm 2010 tiếp tục bắt buộc 147 cơ sở với khoảng 374 miệng lò (ô nhiễm cấp 2) chuyển đổi công nghệ. Từ năm 2011- 2014 bắt buộc các cơ sở sản xuất gạch, ngói thủ công còn lại phải chuyển đổi dần công nghệ. Ðầu năm 2015 đóng cửa dứt điểm các lò gạch thủ công. Lò nung kiểu mới này có thể khắc phục các nhược điểm của lò thủ công đang được sử dụng phổ biến, như hiệu suất sử dụng năng lượng cao, tiết kiệm 30% nhiên liệu so với lò thủ công, giảm phát thải ô nhiễm; chi phí xây dựng thấp (mỗi lò chỉ khoảng 150.000.000 đồng, kể cả hệ thống xử lý khí thải) và có thể nung được nhiều chủng loại sản phẩm khác như gạch tàu, ngói, gốm... Mặt khác, loại lò này còn sử dụng nhiên liệu là nguồn phế thải của ngành chế biến lúa gạo (trấu) có khối lượng rất lớn và cũng là một tác nhân gây ô nhiễm môi trường trong vùng hiện nay. Hiện dự án tiếp tục nhân rộng mô hình này đến các tỉnh Tây Ninh, Sóc Trăng, Ðồng Tháp,...

Có thể bạn quan tâm