Tuyên Quang phát triển kinh tế lâm nghiệp

Tuy nhiên hiệu quả kinh tế từ rừng chưa cao, kinh tế lâm nghiệp phát triển chậm, chưa phát huy được thế mạnh, tiềm năng vốn có của một tỉnh có tới 76% diện tích tự nhiên là đất lâm nghiệp. Ðời sống của một bộ phận người dân làm rừng vẫn còn khó khăn. Làm thế nào để phát huy tiềm năng, thế mạnh nghề rừng, nâng cao đời sống của nhân dân?

Chuyển đổi lâm trường sang công ty lâm nghiệp

Tuyên Quang là tỉnh miền núi có tổng diện tích tự nhiên 586.690 ha, gồm năm huyện, một thị xã với 140 xã, phường và thị trấn. Tuyên Quang, thủ đô kháng chiến, nơi có những cánh rừng đại ngàn chở che cho biết bao thế hệ chiến sĩ cách mạng. Ngày nay, bên cạnh những giá trị kinh tế, rừng còn có vai trò quan trọng về phòng hộ đầu nguồn, bảo vệ môi trường; bảo tồn nguồn gien và các giá trị văn hóa, lịch sử; phục vụ các mục tiêu nghiên cứu khoa học và tham quan du lịch.

Nhiều năm qua, Tuyên Quang là một trong những tỉnh có nhiều thành tích trong việc bảo vệ và phát triển rừng. Diện tích rừng tự nhiên đã được giữ gìn và phục hồi, diện tích rừng trồng tập trung đã được hình thành trên hầu hết các huyện, thị xã. Những cố gắng đó đã đưa Tuyên Quang trở thành tỉnh có độ che phủ của rừng đứng đầu cả nước.

Trước đây, công tác quy hoạch phân chia ba loại rừng chưa được thực hiện đồng bộ trên quy mô toàn tỉnh, chỉ có quy hoạch các khu rừng đặc dụng. Rừng phòng hộ quy hoạch không dựa theo các tiêu chí kỹ thuật mà chỉ thống kê theo nguồn vốn được đầu tư. Do đó diện tích rừng phòng hộ và rừng sản xuất trong một khoảnh đan xen nhau, khó xác định được trên bản đồ và ngoài thực địa, gây khó khăn cho công tác quản lý, bảo vệ và tổ chức sản xuất lâm nghiệp. Từ năm 2005, Tuyên Quang đã tập trung tiến hành rà soát, quy hoạch phân ba loại  rừng, là tỉnh sớm thực hiện việc này trong cả nước. Việc phân ba loại rừng được tiến hành dựa trên cơ sở khoa học và do Phân viện điều tra quy hoạch rừng Ðông Bắc thực hiện. Ðây là cơ sở cho công tác lập phương án quy hoạch phát triển lâm nghiệp của tỉnh đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020... Qua rà soát đã xác định toàn tỉnh hiện có 48.963,3 ha rừng đặc dụng, chiếm 11%; 278.927,4 ha rừng phòng hộ và 258.374,8 ha đất rừng sản xuất, chiếm 57,9% diện tích đất lâm  nghiệp, trong đó  tỷ lệ rừng đặc dụng, phòng hộ giảm, rừng sản xuất tăng lên so với các số liệu trước khi rà soát. Ranh giới từng loại rừng được thể hiện rõ tạo điều kiện thuận lợi cho việc quản lý, sử dụng đất lâm nghiệp của các cấp và tiến hành  giao đất rừng cho các tổ chức, cá nhân và hộ gia đình sử dụng vào mục đích lâm nghiệp.

Sắp xếp, đổi mới và phát triển các lâm trường quốc doanh theo hướng chuyển thành công ty lâm nghiệp hoạt động theo luật doanh nghiệp là một trong những biện pháp nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh, sử dụng có hiệu quả tài nguyên đất, quản lý, bảo vệ, phát triển và sử dụng bền vững  tài nguyên rừng; đồng thời tạo thêm việc làm, thu nhập cho người lao động. Hiện nay, UBND tỉnh đang quản lý sáu lâm trường: Yên Sơn, Tuyên Bình, Nguyễn Văn Trỗi, Chiêm Hóa, Sơn Dương, Nà Hang, riêng Lâm trường Nà Hang chuyển thành Ban quản lý rừng đặc dụng. Khi chuyển sang công ty lâm nghiệp các đơn vị này sẽ thực hiện trồng rừng theo phương thức liên doanh trên đất của công ty quản lý. Người trồng rừng cùng công ty cùng đầu tư vốn trồng, chăm sóc, bảo vệ, căn cứ vào tỷ lệ góp vốn của mỗi bên để phân chia sản phẩm khai thác. Qua tìm hiểu ở các lâm trường trong tỉnh cho thấy việc chuyển đổi từ lâm trường  sang công ty là một sự lựa chọn đúng của tỉnh. Ðiển hình là Lâm trường Yên Sơn.

Lâm trường Yên Sơn đóng trên địa bàn tám xã thuộc huyện Yên Sơn, được giao quản lý 6.262 ha rừng, trong đó 3.900 ha rừng là tự nhiên. Với nhiệm vụ bảo vệ, xây dựng và phát triển vốn rừng. Mỗi năm, lâm trường trồng mới 200 - 300 ha rừng, riêng năm 2005 trồng mới 350 ha. Hằng năm, lâm trường khai thác 12-14 nghìn m3 gỗ, đạt doanh thu khoảng 10 tỷ đồng, liên tục nhiều năm nay, năm nào lâm trường cũng thu lợi nhuận, năm sau cao hơn năm trước. Mỗi ha rừng trồng đến kỳ khai thác cho sản lượng 120-150 m3, hằng năm, diện tích rừng của lâm trường tăng thêm đều đặn 100-200 ha. Giám đốc Ðỗ Tiến Mỹ cho biết, làm ăn có lãi nên thu nhập bình quân của 216 cán bộ, nhân viên lâm trường đạt 1,9 triệu đồng/tháng (đây là đơn vị đầu tiên của tỉnh "dám" đưa mức lương tối thiểu lên 450.000 đồng/1 hệ số) và từ năm 2005 đơn vị đã tự trang trải được các chi phí mà không phải vay vốn. Lâm trường còn liên doanh, liên kết nhân dân trong khu vực để trồng rừng. Ông Vi Văn Túc, thôn Khuôn Hẻ, xã Kim Quan cho biết, lâm trường đưa ra cơ chế mở, trong đó người dân góp  bằng đất, còn lâm trường cho vay giống, phân bón và chuyển giao khoa học - kỹ thuật. Ðây cũng chính là một biện pháp tăng nhanh diện tích rừng và bảo đảm vùng nguyên liệu của lâm trường. Các lâm trường Chiêm  Hóa, Nguyễn Văn Trỗi... cũng đều có biện pháp liên doanh phù hợp điều kiện cụ thể của từng đơn vị với phương châm đôi bên cùng có lợi, cho nên đã tạo ra động lực thúc đẩy mạnh mẽ thu hút người dân tham gia trồng và bảo vệ rừng.

Ðể việc chuyển các lâm trường sang công ty lâm nghiệp đạt hiệu quả, chất lượng, UBND tỉnh Tuyên Quang tập trung chỉ đạo tiến hành rà soát đất đai của lâm trường đang quản lý, phân định rõ từng loại đất và mục đích sử dụng. Trên cơ sở đó cân đối nhu cầu sử dụng cho phù hợp quy hoạch của tỉnh, kế hoạch sản xuất của công ty, tiến tới cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho đơn vị. Các giải pháp về lao động cũng được đặc biệt quan tâm với phương án bố trí giảm lao động gián tiếp, tăng lao động trực tiếp; đào tạo, bổ sung cán bộ kỹ thuật. Về vốn hoạt động, ngoài phần vốn thực hiện nhiệm vụ do Nhà nước giao để thực hiện các chương trình mục tiêu, công ty được huy động vốn dưới nhiều hình thức để phục vụ cho trồng rừng sản xuất, kinh doanh. Ðồng thời cũng đưa ra những giải pháp về thực hiện chế độ tiền lương, bảo hiểm cho công nhân; Giải pháp về khoa học - công nghệ, tổ chức bộ máy về thị trường.

Bà Lê Thị Quang, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh cho biết, trong thời gian trước hoạt động kinh doanh của lâm trường không quan tâm nhiều yếu tố giá thành sản phẩm, chính điều đó kìm hãm sự phát triển của kinh tế lâm nghiệp. Nay chuyển sang hình thức mới buộc các đơn vị này phải năng động tìm thị trường, đầu tư nâng cao giá trị trên từng diện tích đất. Bên cạnh đó, khi thực hiện cơ chế liên doanh người trồng rừng trở thành cổ đông của công ty họ cũng có quyền bàn bạc, thảo luận để quyết định trồng cây gì cho hiệu quả cao. Khi các loại rừng đều có chủ thật sự thì họ  tự chủ trong trồng rừng, kinh doanh dựa vào rừng, phát triển các ngành nghề để có thu nhập ổn định và làm giàu từ nghề rừng, người dân sẽ gắn bó với rừng.  Họ sẽ tự giác bảo vệ, phát triển vốn rừng đó chính là xã hội hóa công tác bảo vệ và làm giàu tài nguyên rừng.

Gắn vùng nguyên liệu với nhà máy

Ðẩy mạnh phát triển kinh tế lâm nghiệp theo quy hoạch phân ba loại rừng và chiến lược phát triển lâm nghiệp của tỉnh giai đoạn 2006-2010, định hướng đến năm 2020. Tỉnh Tuyên Quang phấn đấu đến năm 2010 có 390.440 ha rừng (trong đó có 304.236 ha rừng tự nhiên, 86.204 ha rừng trồng), độ che phủ của rừng đạt hơn 64%, phấn đấu trong năm năm tới (2006-2010) giá trị sản xuất lâm nghiệp tăng bình quân hơn 7%/năm. Tập trung vào khoanh nuôi  bảo vệ nâng cao chất lượng rừng tự nhiên, đẩy mạnh trồng rừng sản xuất, rừng kinh tế để có đủ nguyên liệu cho công nghiệp chế biến, đồng thời nâng cao chất lượng hàng hóa lâm sản đáp ứng tiêu dùng và xuất khẩu. Ðồng thời đề ra  những mục tiêu cụ thể:

Khoanh  bảo vệ tái sinh phục hồi rừng: 20.783 ha; trồng mới: 35.500 ha, trong đó trồng rừng tập trung 30.000 ha; bảo vệ tốt diện tích rừng hiện có; khai thác gỗ rừng trồng: 2.124.000 m3; khai thác tre, nứa: 510.000 tấn.

Phát triển mạnh công nghiệp chế biến các sản phẩm từ gỗ, xây dựng tỉnh trở thành trung tâm lớn về chế biến gỗ trong khu vực. Khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư phát triển công nghiệp chế biến, tiêu thụ lâm sản ngoài gỗ và làm  hàng xuất khẩu.

Rà soát, xây dựng quy hoạch mạng lưới chế biến lâm sản và các vùng nguyên liệu phục vụ công nghiệp chế biến lâm sản trên địa bàn tỉnh, trước mắt là các cơ sở như: Vùng nguyên liệu cho nhà máy giấy và bột giấy An Hòa, công suất 500.000 m3 gỗ nguyên liệu/năm và 200.000 tấn tre, nứa/năm; vùng nguyên liệu cho nhà máy giấy Bãi Bằng, công suất 500.000 m3 gỗ nguyên liệu/năm; vùng nguyên liệu cho nhà máy chế biến gỗ Tuyên Quang, công suất 140.000 m3 gỗ nguyên liệu/năm; vùng nguyên liệu cho nhà máy gỗ xuất khẩu Tuyên Quang, công suất 30.000 m3 gỗ nguyên liệu/năm; Vùng nguyên liệu cho nhà máy đũa gỗ xuất khẩu Phúc Lâm tại huyện Chiêm Hóa.

Rừng sản xuất gỗ lớn: Tập trung quy hoạch chủ yếu ở hai huyện: Na Hang và Chiêm Hóa; rừng sản xuất gỗ nhỏ: Tập trung chủ yếu ở các huyện: Chiêm Hóa, Yên Sơn và Hàm Yên; rừng sản xuất vùng nguyên liệu giấy: Tập trung vùng nguyên liệu ở các huyện: Hàm Yên, Yên Sơn và Sơn Dương.

Tháng 5-2006, tỉnh Tuyên Quang đã khởi công xây dựng Nhà máy giấy và bột giấy công suất 130.000 tấn/năm với tổng mức vốn đầu tư 3.197 tỷ đồng, do Công ty cổ phần giấy An Hòa làm chủ đầu tư. Nhà máy được xây dựng trên diện tích 222 ha, nằm ở trung tâm vùng nguyên liệu giấy chuyên canh.

Dự án hoàn thành theo đúng kế hoạch sẽ mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội cao, tăng sản lượng bột giấy và giấy sản xuất trong nước, giảm bớt việc phải nhập khẩu, hằng năm đóng góp cho ngân sách Nhà nước hơn 100 tỷ đồng, giải quyết việc làm cho hàng nghìn lao động địa phương, đặc biệt quy hoạch vùng nguyên liệu của nhà máy sẽ trải rộng trên diện tích hàng trăm xã của tỉnh, tạo việc làm cho nhiều hộ gia đình sống bằng nghề rừng. Ðây sẽ là thuận lợi rất lớn để kinh tế nông thôn khu vực vùng sâu, vùng xa của tỉnh phát triển, góp phần từng bước ổn định và nâng cao đời sống của nhân dân, thúc đẩy kinh tế - xã hội của tỉnh phát triển.

Cùng với các dự án khác đã và đang được triển khai thực hiện, dự án Nhà máy sản xuất bột giấy và giấy An Hòa sẽ giúp tỉnh Tuyên Quang đẩy nhanh quá trình CNH, HÐH, chuyển dịch mạnh cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động để đến năm 2010 đạt cơ cấu kinh tế công nghiệp, dịch vụ, nông-lâm nghiệp.

Có thể bạn quan tâm