Từ kinh tế nâu sang xanh: Hướng đi cho ngành than trong bối cảnh chuyển dịch năng lượng

Từ kinh tế nâu sang xanh: Hướng đi cho ngành than trong bối cảnh chuyển dịch năng lượng

Từ thực tiễn tại các mỏ than ở Quảng Ninh cho thấy, chuyển dịch năng lượng chỉ có thể bền vững khi được thực hiện từng bước, có lộ trình phù hợp, bảo đảm hài hòa giữa mục tiêu giảm phát thải, phát triển kinh tế, giữ vững an ninh năng lượng và không để người lao động bị bỏ lại phía sau.

Chuyển dịch năng lượng là yêu cầu tất yếu trong lộ trình phát triển bền vững và thực hiện cam kết phát thải ròng bằng “0” của Việt Nam. Với ngành than - lĩnh vực giữ vai trò quan trọng trong bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia và tạo việc làm cho hàng chục nghìn lao động, quá trình chuyển đổi ấy không chỉ là câu chuyện công nghệ hay môi trường mà còn là bài toán lớn về an sinh xã hội và sự công bằng cho người lao động.

Kỳ 1: Hành trình chuyển đổi công bằng ở mỏ than Quảng Ninh

nb2.jpg
Khai thác than hầm lò tại mỏ than Núi Béo. (Ảnh: Vinacomin)

Từ những tầng than lộ thiên từng làm nên sản lượng kỷ lục, các mỏ than ở Quảng Ninh đang bước vào giai đoạn chuyển đổi mang tính lịch sử: Chấm dứt khai thác lộ thiên, chuyển sang hầm lò hiện đại, đồng thời đặt con người và môi trường ở vị trí trung tâm.

Những nỗ lực của doanh nghiệp, tổ chức công đoàn và người thợ mỏ trong việc thích ứng với xu thế chuyển dịch năng lượng cho thấy, chuyển dịch năng lượng công bằng không chỉ là bài toán công nghệ, mà trước hết là bài toán về sinh kế và sự gắn bó của người lao động.

Chuyển đổi mô hình - bước đi tất yếu

nb1.jpg
Lãnh đạo Công ty Than Núi Béo khảo sát thực địa lò chợ cơ giới hóa. (Ảnh: Vinacomin)

Sau hơn ba thập kỷ khai thác, mỏ than Núi Béo đã chính thức khép lại giai đoạn lộ thiên từ năm 2021, chuyển hẳn sang khai thác hầm lò. Đây là một trong những ca chuyển đổi khó nhất của ngành than, bởi lộ thiên và hầm lò đòi hỏi công nghệ, kỹ năng và tổ chức lao động hoàn toàn khác nhau. Tuy nhiên, với Than Núi Béo, đây lại trở thành một trong những dấu mốc đặc biệt nhất trong hành trình 37 năm phát triển của đơn vị.

Theo ông Phạm Bá Tước, Phó Giám đốc Công ty cổ phần Than Núi Béo, đơn vị đã chấm dứt hoàn toàn khai thác lộ thiên từ năm 2021, khép lại giai đoạn từng đạt sản lượng hơn 5 triệu tấn/năm - một trong những mỏ lộ thiên lớn nhất khu vực Đông Nam Á. Thay vào đó, công ty tập trung đầu tư khai thác hầm lò với công nghệ hiện đại, phấn đấu đạt công suất thiết kế khoảng 2 triệu tấn/năm.

Từ năm 2017 đến nay, khi chuyển hẳn sang khai thác hầm lò, công ty đã sản xuất được khoảng 10 triệu tấn than, đào hơn 100km đường lò. Giai đoạn 2020-2025, công ty phấn đấu đạt công suất 2 triệu tấn/năm, ông Phạm Bá Tước cho hay.

tanthan2tr-2.jpg
Ngày 25/12/2025, Công ty Than Núi Béo tổ chức chương trình đón tấn than hầm lò thứ 2 triệu, chính thức đạt công suất thiết kế. (Ảnh: Than Núi Béo)

Song song với đầu tư công nghệ, doanh nghiệp xác định con người là nền tảng của quá trình chuyển đổi. Một trong những thách thức lớn nhất của quá trình chuyển đổi là bài toán lao động.

Hơn 2.000 công nhân quen làm việc lộ thiên đứng trước yêu cầu học nghề mới, phải thích ứng với môi trường hầm lò làm việc sâu hàng trăm mét dưới lòng đất vốn khắt khe hơn về kỹ thuật, an toàn và kỷ luật lao động.

Theo lãnh đạo công ty, Than Núi Béo đã chủ động đào tạo lại, bố trí công việc phù hợp, kết hợp tuyển mới hằng năm khoảng 400-500 lao động để đáp ứng yêu cầu công nghệ mới. Hiện nay, công ty duy trì khoảng 3.300 lao động, trong đó hơn 2.200 công nhân trực tiếp làm việc trong hầm lò.

nb4.jpg
Niềm vui của những người thợ mỏ Than Núi Béo. (Ảnh: Vinacomin)

Chủ tịch Công đoàn Công ty Than Núi Béo Nguyễn Tiến Nhương nhấn mạnh, điều đặc biệt là toàn bộ quá trình chuyển đổi được thực hiện với mục tiêu “không để ai bị bỏ lại phía sau”. Công nhân được sàng lọc theo độ tuổi, sức khỏe; người phù hợp được đào tạo chuyển sang làm hầm lò, người không đủ điều kiện bố trí công việc khác hoặc đào tạo lại.

“Chuyển từ lộ thiên sang hầm lò là việc rất khó, nhưng Núi Béo đã làm được. Không những giữ được lực lượng lao động cốt lõi, mỏ còn đang tiến tới đạt công suất thiết kế chỉ sau vài năm vận hành hầm lò”, ông Nhương nhấn mạnh.

Công nghệ hiện đại gắn với mục tiêu xanh

ganbien12-25-3.jpg
Công ty Than Núi Béo tổ chức Lễ gắn biển công trình lò chợ cơ giới hóa hạng nhẹ 40701, chào mừng Đại hội Công đoàn Than-Khoáng sản Việt Nam khóa VII và Đại hội Công đoàn tỉnh Quảng Ninh khóa XV, nhiệm kỳ 2025-2030. (Ảnh: Than Núi Béo)

Trong quá trình chuyển đổi, mỏ Núi Béo áp dụng các công nghệ hầm lò tiên tiến của Tập đoàn Công nghiệp Than-Khoáng sản Việt Nam, như cơ giới hóa đồng bộ, hệ thống điều hành tập trung, kiểm soát khí mỏ và an toàn lao động.

Song song với chuyển đổi công nghệ, công tác bảo vệ môi trường được Than Núi Béo xác định là nhiệm vụ sống còn. Ngay khi kết thúc khai thác lộ thiên, các khu vực bãi thải được hoàn thổ, trồng cây xanh, hình thành những vành đai sinh thái mới. Nhiều khu vực từng là “điểm nóng” bụi và tiếng ồn nay đã phủ xanh, chuẩn bị tích hợp vào quy hoạch phát triển đô thị, dịch vụ của tỉnh Quảng Ninh.

Phó Giám đốc Phạm Bá Tước cho biết, mỏ Than Núi Béo được Bộ Công thương xếp hạng khí mê-tan loại I, tức hàm lượng thấp. Tuy vậy, công ty vẫn triển khai đầy đủ các hệ thống hút, xử lý khí mê-tan, bảo đảm an toàn và giảm phát thải. Công tác hoàn nguyên, trồng cây xanh, bảo vệ môi trường được thực hiện đúng quy định, phù hợp với các cam kết phát triển bền vững.

ndo_br_dsc02817.jpg
Hệ thống giám sát hiện đại của Công ty Than Núi Béo. (Ảnh: TRUNG HƯNG)

Nhiều diện tích từng là “điểm nóng” môi trường nay đã trở thành các dải cây xanh, công viên sinh thái, mở ra khả năng phát triển các dự án dịch vụ, du lịch trong tương lai. Đáng chú ý, dù nằm giữa khu dân cư trung tâm Quảng Ninh, hoạt động sản xuất của Than Núi Béo vẫn bảo đảm môi trường, không phát sinh khiếu nại của người dân.

“Nếu không trực tiếp chứng kiến, nhiều người sẽ khó tin đây là một mỏ than. Từ cổng mỏ vào đến các tuyến đường nội bộ đều sạch sẽ, xanh mát; nhiều cán bộ, công nhân vẫn mặc áo trắng làm việc. Điều này cho thấy công tác bảo vệ môi trường được đặt lên hàng đầu. Nếu không làm tốt môi trường, chắc chắn doanh nghiệp không thể tồn tại, nhất là khi mỏ nằm gần khu dân cư trung tâm của tỉnh Quảng Ninh”, Chủ tịch Công đoàn công ty, ông Nguyễn Tiến Nhương nhấn mạnh.

nb5.jpg
Công tác bảo vệ môi trường được công ty duy trì thực hiện tốt, gắn sản xuất với bảo vệ môi trường. (Ảnh: Vinacomin)

Song song với đó, công ty đầu tư thường xuyên cho các công trình bảo vệ môi trường, hệ thống xử lý bụi, nước thải, khí thải, bảo đảm điều kiện làm việc an toàn cho người lao động. Các chỉ số môi trường đều được cơ quan chức năng độc lập kiểm tra, giám sát hằng năm.

Đại diện lãnh đạo Công ty Than Núi Béo khẳng định, chuyển đổi từ “nâu sang xanh” không phải là từ bỏ ngành than, mà là tổ chức lại sản xuất theo hướng hiện đại, an toàn, thân thiện môi trường và phù hợp xu thế phát triển bền vững. Trong đó, chuyển dịch năng lượng là quá trình dài hạn. Trong giai đoạn hiện nay, than vẫn giữ vai trò quan trọng với an ninh năng lượng quốc gia, nhưng phải được khai thác theo cách bền vững hơn.

Thực tiễn từ Than Núi Béo cho thấy, chuyển dịch năng lượng công bằng không chỉ là câu chuyện công nghệ, mà là sự kết hợp hài hòa giữa kinh tế-môi trường-con người, tạo nền tảng cho ngành than Quảng Ninh phát triển ổn định trong giai đoạn mới.

>>> Đón đọc Kỳ 2: Người lao động ở trung tâm của chuyển dịch năng lượng

Có thể bạn quan tâm