Cho đến tận thập niên 80 của thế kỷ trước, năm nào chợ hoa Tết ở phố Hàng Lược (Hà Nội) cũng có một quầy bán tranh Tết. Những cái Tết nghèo của thời chiến tranh và cả những năm hậu chiến, trước thời mở cửa vẫn đẹp, vẫn đáng nhớ. Nghèo nhưng đẹp. Chợ Tết - tức là phải có hàng “Tranh Tết”. Tranh gà, tranh lợn, in bằng phẩm mầu trên giấy dó quét điệp. Giản dị nhưng đẹp. Cả người vẽ và người mua tranh đều gửi gắm vào đó nỗi niềm của mình, ước mơ, khao khát của mình, hy vọng của mình về một năm mới an lành hơn. Thời đó ai cũng chỉ mong mỏi sự an lành thôi. Cuộc sống đổi thay, mỗi thời mỗi khác, ước mơ làm giàu không sai nhưng ở một cách tiếp cận nào đó, nó đã làm cho lòng người không yên (đối với mỗi cá nhân cũng như với cộng đồng) và ý nghĩa của Tết đã khác trước nhiều lắm. Thế mới biết, không phải sự giàu có là tất cả, cái giàu đến và cũng lấy đi của người ta nhiều thứ.
Tết bây giờ, chợ hoa Tết không còn “Quầy tranh Tết”, Tết bây giờ còn có mấy ai mua tranh? Cái nếp sống đẹp đó đã nhạt đi nhiều.
Tranh không chỉ là tranh, chữ cũng là tranh, chữ đẹp ý hay là thư họa, cũng là một thú chơi mỗi dịp năm mới. Tranh chữ có thể là hoành phi, câu đối, hoặc đại tự. Người có tiền thì sắm hoành phi câu đối sơn son thếp vàng hoặc tân tiến hơn là chữ gò đồng, chữ ghép bằng đá quý rởm (đang là mốt), người nghèo thì ra chợ Tết vỉa hè “xin” chữ của các ông đồ, chữ viết bằng mực tầu trên giấy đỏ điều. Thường là chữ Tâm, chữ Đức hoặc Phúc Lộc Thọ. Người biết chơi chỉ một chữ Phúc là đủ. Phúc là nguồn gốc của mọi sự ở đời. Thịnh suy, hay dở, vui buồn, tủi hổ đau đớn hay hoan lạc cũng ở đó mà ra huống hồ Lộc hay Thọ. Lá tử vi có 12 đại sự, cha mẹ, anh em, vợ con, công danh, tiền bạc, điền địa, bệnh tật... nhưng thật ra tất cả đều do Phúc. Tạo Phúc phải bằng Đức và từ Tâm. Phật bảo: vạn pháp duy Tâm tạo.
Chợt nhớ giáp Tết năm ngoái, cô Đ.N bạn tôi làm ở công ty buôn bán máy văn phòng hớt hải đến tôi đặt vẽ một bức tranh phong cảnh dòng sông trong sương sớm để chơi Tết. Cô ta kể lể dài dòng, đại khái sau nhiều trầm bổng, ly hợp giờ cô ta chỉ muốn sang năm mới sẽ được cân bằng trở lại và cô ấy muốn gửi điều mong muốn giản dị đó vào bức tranh phong cảnh bình yên như một lời tự chúc mình. Tôi rất thông cảm với cô bạn nhưng vì phong cảnh không là sở trường nên tôi đã mách nước cho cô ta ra cửa Văn Miếu, vài ba năm trở lại đây, cứ gần Tết là có rất nhiều thầy đồ già có trẻ có trải chiếu, bày biện mực tầu, giấy đỏ lỉnh kỉnh như một cái chợ “chữ”.
Trước khi đi, cô ta hỏi, theo anh tôi xin chữ gì về treo thì hợp. Tôi nghĩ mãi không ra, đành ang áng: Với cô chỉ cần một chữ An là đủ. Nói bừa đâm lại đúng hay sao mà cô ta gật đầu lia lịa, lên xe phóng biến đi. Mấy tháng sau gặp lại, cô ấy bảo, hôm đó tôi chẳng vội vã gì đâu mà tôi muốn về ngay nhà để được một mình, để khóc với mình. Tôi nghĩ bụng, một đời sống an lành trong lúc này, cứ tưởng dễ nhưng khó lắm. Với tôi, tôi cũng chỉ ước lòng mình luôn được bình an là thỏa nguyện rồi.
Tết năm 1968, chiến tranh ùng oàng, cả nhà tôi bồng bế nhau về nơi sơ tán. Chiều 30, bà tôi ôm tôi, vừa khóc vừa bảo: Chỉ mong hết bom đạn, Tết bà cháu mình ăn cơm với muối cũng được. Ông tôi im lặng ngồi nghe, ông rút cái đóm hút thuốc lào, chấm vào lọ mực tím, viết lên tờ giấy học sinh, chữ Phúc theo lối cuồng thảo. Một cái Tết chiến tranh, đói rét nhưng tôi còn nhớ mãi.
Mỗi năm biểu tượng bằng một con vật, tính từ Tý lần lượt tiếp theo là Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi, gọi là thập nhị địa chi. Các họa sĩ Việt Nam hay chọn đề tài này để vẽ tranh Tết. Người thành công nhất là họa sĩ Nguyễn Tư Nghiêm, ông vẽ nhiều và đẹp về 12 con giáp. Ngoài Kiều - Kim Trọng, Múa cổ thì đây là một mạch cảm xúc chính của ông. Họa sĩ Bùi Xuân Phái cũng năm nào vẽ con đó trên giấy, trên bìa để mừng tuổi bạn bè, để tết bạn bè. Những món quà tặng đầy tấm lòng, những bức tranh Tết và Tết nhau bằng tranh chỉ có ở thời giàu tình, duy tình như thế.