Mãi cho đến sáng nay mới hở chút thời gian giữa hai phiên việc, chúng tôi tranh thủ pha ấm trà, mời mấy anh em đến uống nước, hút thuốc lá, nói chuyện cho vui. Chuyện con nhà lính bên "hội" trà lá dù chỉ vài phút vẫn cứ nổ như ngô rang. Các "bố" thi nhau đưa ra những mẩu tin chiến sự nóng hổi nhất mà mình mới nghe lỏm được:
- Ta bao vây, chia cắt, cô lập hoàn toàn quân địch ở Sài Gòn - Gia Ðịnh rồi nhá!
- Tớ nghe nói, tuyến phòng thủ của Nguyễn Văn Thiệu ở Biên Hòa, Thủ Dầu Một, Ðồng Dù... đã bị đại quân ta phá vỡ ngày hôm qua rồi các ông ạ.
Anh bạn công vụ mới đi công tác phía trước với thủ trưởng về, mặt mũi còn bơ phờ, đầy cát bụi, cũng xà vào làm một chén, gật gù góp chuyện:
- Chúng nó chết đến cổ rồi, chứ còn nghe nói cái gì nữa. Các vị ở đây chưa biết đâu. Quân ta đánh ác chiến lắm. Hậu cần nhà mình chiến dịch này làm ăn cũng giỏi. Cứ gọi là lính ta đứng trên núi đạn mà nện. Ðạn giã thoải mái nhá - anh bạn hít một hơi thuốc đến hóp má rồi phun ra một luồng khói dài, nói tiếp - Chà chà, chịu các cụ không biết dự trữ từ bao giờ mà nhiều gạo, đạn đến thế. Ðúng như thủ trưởng tham mưu bảo, chiến dịch này hậu cần ta đã thực hiện được yêu cầu của mặt trận là "binh mã vị tẩu - lương thảo tiên hành" thánh thật.
Nhìn nét mặt non choẹt, tưởng bấm ra sữa của cậu ta mà lại ăn nói như cụ đồ nho, khiến mọi người cười bò. Nhưng nét mặt cậu công vụ vẫn tỉnh khô, cậu ta khề khà giảng giải:
- Các vị có biết "binh mã vị tẩu" với "Lương thảo tiên hành" là thế nào không? Nôm na mình tạm dịch thế này "binh lính đi sau, lương thực, súng đạn đi trước. Chiến lược, sách lược đấy nhá, không phải chuyện đùa đâu - Ðột nhiên cậu ta nhìn sang phía tôi, lắc đầu làm ra vẻ phục sát đất - Còn lính thông tin các ông bò ở đâu ra mà đông ơi là đông. Ðến bất cứ xó xỉnh nào cũng gắp dây dợ lằng nhằng, "Sông Hồng" gọi "Sông Lô", "Trường Sơn Ðông" gọi "Trường Sơn Tây" cứ í a í ới, nghe loạn cả lên.
Ðược khen, tôi nóng mặt, gãi gãi tai cố tìm một câu thật văn vẻ, thật đắt để nhấn mạnh cái tính chất quan trọng của thông tin liên lạc, đại thể: Thông tin của chúng tớ ví như mạch máu trong cơ thể con người. "Máu chảy đến đâu bộ đội ta tiến đến đấy... Nhưng tôi chưa kịp nói thì có một chiếc xe "đít tròn" không rõ từ đâu phóng tới đỗ xịch ngay trước mặt chúng tôi. Hai người, một già, một trung niên, mở cửa xe bước xuống. Nhìn lướt nhanh sợi dây phi-dơ kéo vào hầm điện đài, "đồng chí già" hỏi tôi:
- Các cậu thông tin phải không?
Tôi bật dậy, đứng nghiêm, đáp:
- Báo cáo thủ trưởng: Rõ!
Tôi gọi thế bởi thấy mái tóc húi cua của ông đã bạc trắng. Tuy già nhưng dáng dấp ông vẫn cường tráng, phong độ như thanh niên. Ông đi đứng nhìn ung dung, đĩnh đạc, đặc biệt giọng nói của ông bừng bừng như có lửa. Một người như vậy ở chiến trường dứt khoát phải là một vị chỉ huy từng trải và có tài.
Ông bước tới lần lượt bắt tay từng đứa. Ðến tôi, ông bóp mạnh. Chao, bàn tay ông sao mà ấm áp, sao mà dày cứng. Ông nói:
- Ðài ÐQ28 gửi lời hỏi thăm các cậu đấy.
ÐQ28 hỏi thăm chúng tôi thật sao? Từ khi bước vào chiến dịch Hồ Chí Minh, trên làn sóng vô tuyến điện tôi được gặp rất nhiều anh bạn mới. Nhưng với ÐQ28 tôi có cảm tình thật đặc biệt. Qua cung cách xử lý công việc, tôi biết anh không thuộc diện báo vụ viên kỳ cựu. Tiếng ma-líp của anh chưa bị lai tạp, nghe chậm và chân phương cứ như đang ở trường huấn luyện. Tôi phục và mến anh ở thái độ làm việc. Việc làm gặp khó khăn đến mấy cũng không kêu. Tín hiệu dù có nhỏ như "con kiến gáy" cũng cố thu. Nhiễu xạo cũng vẫn thu. Ðôi lần vì nhiều việc quá mà anh ta thu ì ạch mãi chưa xong, tôi nóng tai nổi khùng: "Yêu cầu anh giới thiệu người khác vào thay", anh ta vẫn nhũn nhặn, khiêm tốn: "Anh thông cảm. Tôi chỉ có một mình". Tất nhiên, nghe câu nói ấy thì dù một người có nóng tai đến mấy cũng phải nguội dần. Ðợi đến lúc phiên việc kết thúc, mọi việc giải quyết xong, anh mới mát mẻ một câu: "Anh còn đuổi tôi nữa không?" Ấy thế mà trong phiên việc đột xuất đêm mới rồi, tôi vừa phát xong bức điện "tối khẩn" vừa buông tay khỏi núm ma-níp, tôi đã nghe ÐQ28 báo ngay: "Ở đây tôi đang bị địch gây nhiễu. Ðề nghị anh vui lòng nhắc lại nhóm...". Mới phát đến tín hiệu có chữ nhóm, bỗng nhiên tiếng moóc của ÐQ28 ụ...ụ...ụ... lên mấy tiếng rồi lặng đi, mất hút, y như người đang nói bị chẹn họng vậy ! Tôi thảng thốt kêu: "Ôi, mất tín hiệu rồi", và vội vàng bỏ cáp nghe khỏi tai.
Chúng tôi nhanh chóng bảo nhau bấm đèn pin để kiểm tra máy: Pin vẫn còn, máy thu hoạt động tốt. Chui ra ngoài hầm đài xem dây ăng-ten: Ăng-ten thẳng căng, vẽ lên nền trời xanh đen một vạch thẳng, trắng mờ. Chùm sao tua rua đã lên tới ngang tai. Vào giờ khuya khoắt này, trời trong trẻo thế này, con nhà thông tin "vô tuyến" làm ăn thuận lợi biết chừng nào. Thế mà tại sao chúng tôi lại mất liên lạc với ÐQ28 ? Phía ngoài đường xe xích lăn bánh. Tiếng động cơ sôi lên, náo động một cánh rừng, rung chuyển cả vách núi. Mấy chiếc com-măng-ca đỗ trước cửa nhà Sở chỉ huy mặt trận đang nổ máy, bấm còi, bật đèn chuẩn bị lao ra khỏi cánh rừng... Tất cả không khí chiến dịch đang diễn ra hết sức khẩn trương nhắc nhở chúng tôi không thể để mất liên lạc với ÐQ28.
Tôi lại chui vào hầm, lên máy tiếp tục gọi ÐQ28. Gọi đến mỏi cổ tay, lại tìm. Năm phút, rồi bảy phút trôi qua. Chiếc đồng hồ đặt trên nắp máy cứ tích ta, tích tắc hối hả, thúc giục. Mặc mồ hôi hột đọng lại trên trán, rồi rơi nhoàng nhoàng xuống bàn; mặc muỗi đốt đau như kim châm và muỗi bay đập cả vào mặt, chui vào mũi... tôi cố gạn lọc từng tín hiệu, cố tìm và nhận ra tiếng bạn mình trong muôn vàn âm thanh hỗn loạn của bầu trời.
Bằng sự kiên nhẫn của mình, cuối cùng tôi cũng tìm lại được ÐQ28. Chẳng có thời gian hỏi xem tại sao anh bỏ liên lạc với tôi lúc đang cần kíp nhất? Tại sao bây giờ anh phát báo xấu thế?" Tôi dằn lòng, cố tập trung tư tưởng, nhắc lại cho ÐQ28 thật chính xác những nhóm điện mà hơn mười phút trước đấy anh chưa thu được.
Thu xong bức điện, anh báo tôi biết điều vui mừng ấy và thay vì lời chào tạm biệt theo thông lệnh, anh chỉ gửi tôi một tiếng "tà" kéo dài. Tín hiệu nhỏ dần rồi mất hút. Tôi ngỡ ngàng, phân vân trước hiện tượng lạ lùng này nhưng không biết hỏi ai.
Tôi hy vọng sẽ gặp lại anh trên làn sóng điện vào những phiên việc tới. Nhưng... phiên việc sau đấy, mấy ngày sau nữa, tôi đều không thấy anh lên máy. Một báo vụ viên nào đó đã thay thế anh. Ðiều này khiến tôi không thể không đặt ra những giả thiết: anh bị ốm sốt rét đến liệt giường, liệt chiếu? Anh chuyển sang công tác ở đài khác, quan trọng hơn? Anh bị thương nặng? Hay là anh đã hy sinh? Tôi bùi ngùi, tiếc chẳng còn được gặp lại anh để báo anh biết tin: Thủ trưởng mặt trận vừa tỏ lời khen ngợi: "Các đồng chí thông tin liên lạc chuyển, nhận điện nhanh chóng, kịp thời, chính xác và an toàn. Hiệp đồng chặt chẽ với các binh chủng khác. Thế là tốt"...
Ðấy, giữa lúc tôi không còn một chút hy vọng nào để biết tin về anh bạn tuy chưa gặp mặt nhưng vô cùng thân thiết thì "đồng chí già" bảo có ÐQ28 hỏi thăm, tôi mừng quá chỉ thiếu kiềm chế một chút là xô tới ôm chầm lấy ông. Tôi vồn vã hỏi:
- Thủ trưởng ở ÐQ28 đến ạ?
Ông gật đầu, hỏi:
- Các cậu đã biết chuyện gì về ÐQ28 chưa? - Không đợi chúng tôi trả lời, ông hào hứng kể - Mấy con nhỏ thông tin ở chỗ mình chúng nó khá lắm đó. Ðêm hôm mới rồi, biết thủ trưởng đang sốt ruột chờ lệnh cấp trên mà quên cả nguy hiểm, bất chấp cả pháo địch từ xa dội tới, bọn nó cứ "ôm" máy để giữ vững thông tin liên lạc. Con nhỏ là trưởng đài, tuy mới được đào tạo gấp để kịp phục vụ chiến dịch mà vừa giỏi giang, vừa dũng cảm. Bị dính một mảnh pháo, cánh tay phải của nó gãy nát... Tỉnh dậy nó vẫn không chịu rời vị trí chiến đấu. Nó dùng tay trái vừa gõ ma-níp, vừa thu điện. Ðiện thu xong nó lại ngất lịm, bất tỉnh nhân sự ngay trên máy...
Nói đến đây ông ngừng lời, vẻ xúc động lộ nguyên trên khuôn mặt đầy đặn, đầy những nếp nhăn của ông. Chúng tôi cùng lặng im, đưa mắt nhìn nhau. Ðiều thắc mắc về ÐQ28 thế là tôi đã rõ: Vì bị thương nên ÐQ28 phải bỏ liên lạc với chúng tôi nửa chừng; vì phát báo tay trái nên tín hiệu mới ngập ngừng, lập cập. Và thật bất ngờ, trưởng đài ÐQ28 lại là một cô gái! Thảo nào mà tính tình "anh ta" ôn tồn, nhẹ nhàng, dịu dàng không chê vào đâu được... Tôi sốt ruột hỏi ngay ông:
- Thế đồng chí nữ trưởng đài ấy vẫn sống chứ ạ?
- Ðương nhiên vẫn sống chứ. Một con người như thế, chết làm sao được. Thôi, chào các cậu.
Ông vừa quay gót bước những bước thật dài đi về phía ngôi nhà của Sở chỉ huy, "hội trả" của chúng tôi cũng vừa giải tán thì đồng chí làm công tác cơ yếu xồng xộc đến. Mắt anh chơm chớp, miệng anh mêu mếu, anh báo tin:
- Sài Gòn ... giải ... phóng ... rồi!
Nói xong, bỗng anh òa khóc và giơ cả hai cánh tay dài, rắn chắc như hai thanh sắt ôm ghì lấy tôi, nhấc bổng tôi lên, quay liền mấy vòng.
- Sài Gòn giải phóng rồi! Sài Gòn giải phóng rồi!
Chúng tôi vừa la hét, vừa reo hò, vừa ôm nhau, thụi vào lưng nhau, đẩy nhau ra rồi lại ghì riết lấy nhau. Tiếng reo tưởng như vỡ lồng ngực hòa cùng từng loạt súng bắn mừng chiến thắng ầm vang cả cánh rừng. Khu rừng xôn xao, chao động. Nắng sớm mùa xuân ửng lên mượt mà ấm áp. Chao ôi, bao nhiêu năm đấu tranh gian khổ, biết bao mất mát hy sinh mới có được niềm vui trọn vẹn này. Vẫn biết cái ngày hôm nay sẽ đến nhưng nó đến nhanh quá, làm cho cả người trong cuộc là những người lính chúng tôi đều vui đến sững sờ, tưởng đâu như nằm mơ!
Một luồng gió thổi tràn qua. Những cây le, lồ ô ngả nghiêng để lộ từng mảng da trời xanh cao lồng lộng. Ôi, bầu trời thân yêu, khoảng không gian bao la, với chúng tôi là một chiếc cầu - chiếc cầu nối liền các mặt trận lại với nhau, nối liền các chiến thắng lại với nhau, nối liền chúng tôi lại với nhau... Giờ này ở khắp các mặt trận hẳn là các bạn tôi cũng đang nhảy lên, hò reo mừng Chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng?
Mặc hai dòng nước mắt tràn mi chảy giàn giụa trên hai gò má, đồng chí cơ yếu đưa cho tôi một bức điện viết trên tờ giấy mầu hoa đào rất đẹp, bảo:
- Chuyển về Hà Nội báo tin: Miền Nam đã hoàn toàn giải phóng!
Chẳng ai phải giục ai, tổ đài chúng tôi cùng đưa tay lên tới ngang tai, cùng giậm chân đánh "oách" một cái và nói:
- Báo cáo đồng chí: Rõ!