Tiếng nói của đoàn kết và quyết tâm

Xây dựng Tây Nguyên ngày càng giàu đẹp, cùng cả nước đi lên CNXH

(Trích phát biểu của ông Ksor Nham, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HÐND tỉnh Gia Lai)

Cách đây 60 năm, ngày 19-4-1946, khi Tổ quốc ta đang trong bối cảnh "ngàn cân treo sợi tóc", Ðại hội các dân tộc thiểu số miền nam được khai mạc tại Plây Cu để bày tỏ sự đoàn kết, thống nhất của nhân dân các dân tộc thiểu số miền nam đi theo Ðảng và Bác Hồ, quyết tâm kháng chiến chống thực dân, đế quốc giành lại độc lập, tự do cho Tổ quốc. Ðại hội vinh dự và vô cùng xúc động khi được đón nhận thư của Bác Hồ gửi Ðại hội.

Làm theo lời căn dặn của Người: "Ðồng bào Kinh hay Thổ, Mường, hay Mán, Gia Rai hay Ê Ðê, Xê Ðăng hay Ba Na và các dân tộc thiểu số khác đều là con cháu Việt Nam, đều là anh em ruột thịt. Chúng ta sống chết có nhau, sướng khổ cùng nhau, no đói giúp nhau", nhân dân các dân tộc tỉnh Gia Lai và Tây Nguyên luôn một lòng kính yêu Bác Hồ, tin yêu Ðảng, đoàn kết, kiên cường, bất khuất trước quân thù; thủy chung, son sắt với cách mạng và đã vượt qua muôn vàn khó khăn, gian khổ, hy sinh, lập nên những chiến công hiển hách; những tên núi, tên sông, tên làng và những trận đánh lập nhiều chiến công đã mãi mãi đi vào lịch sử đấu tranh cách mạng như một huyền thoại, góp phần quan trọng vào cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc; vào chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, làm nên Ðại thắng mùa xuân năm 1975, giải phóng hoàn toàn miền nam, thống nhất Tổ quốc.

Sau ngày đất nước thống nhất, phát huy tinh thần đoàn kết và chủ nghĩa anh hùng cách mạng, đồng bào các dân tộc Tây Nguyên đã ra sức hàn gắn vết thương chiến tranh, khôi phục và phát triển sản xuất, xây dựng đời sống mới, củng cố quốc phòng - an ninh, phấn đấu thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội mà Ðại hội Ðảng bộ các tỉnh đề ra qua các nhiệm kỳ. Và nay, tuy còn nhiều khó khăn, song với sự quan tâm đặc biệt của Ðảng và Nhà nước đối với đồng bào các dân tộc Tây Nguyên; với quyết tâm chiến thắng đói nghèo, Tây Nguyên đã có sự phát triển vượt bậc, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân các dân tộc được cải thiện rõ rệt, diện mạo từ nông thôn đến thành thị có nhiều đổi thay sâu sắc. Trường học, trạm y tế, đường giao thông, công trình thủy lợi được Nhà nước quan tâm đầu tư xây dựng; hầu hết các buôn, làng đã có điện. Công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân có nhiều tiến bộ, đến nay hàng trăm nghìn đồng bào dân tộc thiểu số được cấp thẻ khám, chữa bệnh; hàng nghìn người bị mù mắt do đục thể thủy tinh đã được phẫu thuật miễn phí. Chương trình phát thanh, truyền hình, báo chí bằng ngôn ngữ các dân tộc được chú trọng, đã góp phần đưa các chủ trương của Ðảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đến với đồng bào. Sự nghiệp giáo dục đào tạo, thực hiện chính sách xã hội được cấp ủy và chính quyền các tỉnh Tây Nguyên đặc biệt quan tâm. Ðội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số ở các cấp được quy hoạch, đào tạo và đang phát huy vai trò tích cực trong xây dựng và bảo vệ quê hương, đất nước, cũng như trong xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân. Quyền bình đẳng giữa các dân tộc ngày càng được thể hiện rõ trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Sinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáo được cấp ủy, chính quyền tôn trọng và tạo điều kiện, đồng bào các dân tộc thiểu số, đồng bào có đạo ngày càng hiểu rõ và tin Ðảng, Nhà nước; đoàn kết giữa các dân tộc tiếp tục được củng cố và tăng cường.

Tuy nhiên, Tây Nguyên nói chung và Gia Lai nói riêng vẫn là vùng còn nghèo, chất lượng và hiệu quả của nền kinh tế chưa cao, đời sống của nhân dân còn nhiều khó khăn. Xóa đói, giảm nghèo chưa vững chắc, phân hóa giàu nghèo có xu hướng ngày càng tăng. Năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức đảng chưa ngang tầm yêu cầu đòi hỏi; hiệu lực quản lý, điều hành của chính quyền các cấp còn hạn chế; hoạt động của Mặt trận và các đoàn thể chưa theo kịp với yêu cầu nhiệm vụ. Ðó là những vấn đề mà các thế lực thù địch đang triệt để lợi dụng để kích động nhằm gây mất ổn định tình hình ở Tây Nguyên, phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc và cuộc sống bình yên của nhân dân.

Quá trình 60 năm lãnh đạo nhân dân thực hiện các nhiệm vụ cách mạng cho chúng ta nhiều bài học kinh nghiệm bổ ích, song bài học về phát huy sức mạnh tổng hợp của khối đại đoàn kết toàn dân tộc; không ngừng đổi mới nội dung, đa dạng hóa các hình thức hoạt động của Mặt trận, các đoàn thể để tập hợp quần chúng; thực hiện đúng đắn chính sách dân tộc, chính sách tôn giáo của Ðảng, Nhà nước... vẫn còn nguyên giá trị cả về lý luận và thực tiễn.

Tây Nguyên nói chung và Gia Lai nói riêng sau những năm đổi mới đã thu được những thành tựu to lớn. Ðảng bộ, nhân dân các dân tộc Tây Nguyên bày tỏ lòng biết ơn vô hạn đối với Ðảng, Nhà nước và Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại đã và đang chăm lo cho nhân dân các dân tộc Tây Nguyên.

Với niềm tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Ðảng Cộng sản Việt Nam, Ðảng bộ, quân và dân các dân tộc Tây Nguyên nói chung và Gia Lai nói riêng nguyện đoàn kết một lòng, quyết tâm phấn đấu xây dựng Tây Nguyên ngày càng giàu đẹp và phồn vinh, cùng với cả nước đi lên CNXH, thực hiện thắng lợi sự nghiệp CNH, HÐH đất nước, vì mục tiêu "dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh", để Tây Nguyên mãi mãi xứng đáng với sự chăm lo, tin tưởng của Ðảng và Bác Hồ kính yêu.

Thành quả sức mạnh đại đoàn kết dân tộc trên đất Tây Nguyên

(Trích phát biểu của ông Nguyễn Xuân Du, nguyên Bí thư Tỉnh ủy Lâm Ðồng)

Tôi cho rằng bức thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi cách đây 60 năm, đến nay vẫn còn nguyên giá trị. Thời gian 60 năm, so với lịch sử hàng mấy nghìn năm dựng nước và giữ nước của Tổ quốc Việt Nam quả là ngắn ngủi. Nhưng dưới sự lãnh đạo của Ðảng, làm theo tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong chế độ mới,  các dân tộc thiểu số nói chung và các dân tộc gốc Tây Nguyên, trong đó đồng bào các dân tộc tỉnh Lâm Ðồng có những bước tiến thần kỳ. Từ một nước chịu đựng 80 năm nô lệ, dưới ách thống trị thực dân Pháp và hàng nghìn năm chế độ phong kiến, đời sống tinh thần vật chất hết sức lạc hậu, luôn chịu sự áp bức bóc lột, sống cảnh đói cơm, lạt muối, quanh năm khố rách áo ôm. Trình độ văn hóa trong đồng bào dân tộc trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945 có đến 99% người dân tộc không biết chữ (người Kinh 95%), tư liệu sản xuất nằm trong tay các chủ đồn điền, còn người nông dân lao động dân tộc chuyên làm thuê, cuốc mướn...  đồng bào dân tộc gốc Tây Nguyên, sống du canh, du cư, phá rừng làm rẫy, không tự túc nổi lương thực để sống qua ngày, sáng cơm độn khoai, chiều cháo trộn rau rừng... Gia cang là chòi tranh vách nứa, giang san sự nghiệp nằm trong chiếc gùi... Cả các dân tộc gốc Tây Nguyên cũng như người Mạ, K'Ho, Chu Ru ở Lâm Ðồng cùng chung số phận ấy. Hôm nay cùng nhau nhìn lại thấy các dân tộc Tây Nguyên nói chung và dân tộc Mạ, K'Ho, Chu Ru Lâm Ðồng đã có sự thay đổi không ngừng, không còn người đói, người nghèo giảm dần...  Nhiều gia đình có nhà xây, có xe máy, có phương tiện nghe nhìn, có điện thắp sáng, có nước sạch sinh hoạt dẫn đến nhà; các địa phương có đường xe đi đến xã, thôn, buôn; vật tư lương thực, thực phẩm, nhiên liệu, thuốc men mang bán đến xóm, có xe chở đến nơi mua bán trao đổi dễ dàng. Hệ thống điện thoại phát triển đến xã và đang phát triển đến hộ dân, trong đồng bào dân tộc nay đã có nhiều người sắm được điện thoại di động, liên lạc cả trong và ngoài nước.

Ðến nay, trong đồng bào ta cả vùng sâu, vùng xa đều đã xóa xong nạn mù chữ và đang phấn đấu phổ cập tiểu học và trung học cơ sở. Lực lượng trí thức người dân tộc thiểu số dưới chế độ ta đang hình thành, không ngừng phát triển và bổ sung. Tại Lâm Ðồng đã có hàng nghìn sinh viên tốt nghiệp đại học, cao đẳng và trung học chuyên nghiệp; có gia đình có đến 3 con tốt nghiệp đại học. Các xã dân tộc thiểu số có trụ sở khang trang, trường học, trạm y tế, nhà hộ sinh bảo đảm  tiêu chuẩn; có buôn, có xã  đề ra mục tiêu sớm xóa bỏ nhà tranh vách nứa, đã có một số buôn có nhà xây, sân vườn sạch đẹp. Hơn 90% xã đồng bào dân tộc tỉnh Lâm Ðồng có điện lưới thắp sáng, có mạng lưới truyền thanh, truyền hình, có trạm bưu điện, có nhà văn hóa; có một số thôn buôn trong đồng bào dân tộc và vùng có đạo đạt tiêu chuẩn thôn, buôn văn hóa được huyện và tỉnh công nhận.

Với chính sách giao đất giao rừng, cấp đất cho đồng bào dân tộc phát triển sản xuất nông nghiệp của Ðảng và Nhà nước tại Lâm Ðồng, đến nay hầu như 100% hộ dân tộc có vườn cây công nghiệp, cây ăn trái như: chè, cà-phê, điều, sầu riêng, hồng quả... mỗi nhân khẩu bình quân có từ 1.000 m2 đến 3.000 m2 diện tích đất canh tác và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của mỗi hộ, so với nghìn đời trước đây chưa hề có.  Tất cả mọi sự thay đổi, tiến bộ nói trên là thành quả sức lao động của nhân dân các dân tộc sau hơn 30 năm hòa bình xây dựng, và đó cũng là từ nguồn sức mạnh đại đoàn kết các dân tộc, đoàn kết Kinh-Thượng, lương-giáo.

Có thể nói rằng: 60 năm truyền thống và sự nghiệp cách mạng của các dân tộc Tây Nguyên là cực kỳ to lớn, là bước tiến nhảy vọt cả chính trị, văn hóa, kinh tế, xã hội, quốc phòng an ninh...

Nhưng các thế lực phản động vẫn ngoan cố  âm mưu chống phá Việt Nam, bằng thủ đoạn chia rẽ, lừa mị, dùng dân Tây Nguyên để phá hoại thành quả cách mạng trên đất Tây Nguyên, ngăn cản sự nghiệp cách mạng trong cả nước. Chúng ta khẳng định rằng: thành quả của các dân tộc Tây Nguyên có được như ngày nay là thành quả của sức mạnh Ðại đoàn kết các lực lượng, hội nhập Trung - Nam - Bắc, là sức mạnh đoàn kết dân tộc, đoàn kết Kinh - Thượng, lương - giáo, cùng đồng lòng làm theo Tư tưởng Bác Hồ, làm theo chủ trương chính sách của Ðảng, Chính phủ, kiên trì cách mạng, kiên trì chống Pháp, đuổi Mỹ xâm lược. Có 30 năm đánh giặc, có 30 năm xây dựng, có hàng vạn đồng bào đồng chí cả người Kinh và người dân tộc thiểu số đã hy sinh đổ máu trên đất Tây Nguyên. Máu của đồng bào Kinh - Thượng, lương - giáo trên đất Tây Nguyên đã hòa chung trong đất, trong nước của Tây Nguyên đại ngàn, tô đậm thêm lá cờ đỏ sao vàng tươi thắm là linh hồn của Tổ quốc Việt Nam, sẽ mãi mãi tung bay trên đất Tây Nguyên này.

Ðoàn kết xây dựng và bảo vệ cuộc sống ấm no và bình yên

(Trích phát biểu của ông Kơ Să Hà Tang, thôn 1, xã Ðạ Sar, huyện Lạc Dương, Lâm Ðồng)

Sinh ra và lớn lên tại vùng quê nghèo, trước  năm 1975 bà con xã Ðạ Sar chúng tôi chủ yếu du canh, du cư làm rẫy, cuộc sống hết sức cực khổ, hằng ngày khoai, bắp không có ăn, con cái không được học hành, ốm đau, bệnh tật không có thuốc để cứu chữa...

Sau ngày giải phóng, Ðảng và Nhà nước ta đã có những chủ trương, chính sách phù hợp để giúp đỡ đồng bào dân tộc thiểu số về mọi mặt. Ðặc biệt những năm đổi mới, các cấp chính quyền ở địa phương đã tuyên truyền, vận động bà con trong xã định canh, định cư; cung cấp giống, kỹ thuật và hướng dẫn nông dân trồng lúa nước, cây công nghiệp lâu năm như hồng, cà-phê; chăn nuôi trâu bò, heo, gà... cuộc sống của các hộ gia đình dần dần được cải thiện.

Nhà nước đã đầu tư cho vùng sâu, vùng xa  xây dựng cơ sở hạ tầng; có đường giao thông thuận lợi; có điện để thắp sáng và sản xuất; có nước sạch sinh hoạt; xây dựng trường học và hỗ trợ con em dân tộc thiểu số có điều kiện học hành; có trạm y tế và bác sĩ để khám chữa bệnh cho bà con...  Từ một xã đặc biệt khó khăn, đến nay xã Ðạ Sar chúng tôi không còn hộ đói, hộ khá chiếm tỷ lệ cao khoảng 40%, hộ nghèo còn 3%; hầu hết các gia đình đều có phương tiện nghe nhìn, hơn 60% hộ có xe máy; một số hộ mua sắm được máy móc phục vụ sản xuất như: máy kéo, máy cày...

Gia đình tôi có sáu người con, được ăn học và đã trưởng thành. Trong sản xuất nông nghiệp, ngoài làm lúa nước và trồng bắp, gia đình tập trung chăm sóc hai ha cà-phê xen lẫn cây hồng quả, mỗi năm thu hoạch khoảng từ 15 đến 20 tấn cà-phê tươi và từ 1 đến 2 tấn quả hồng; chăn nuôi 10 con heo; ngoài ra còn buôn bán nhỏ tại nhà và làm nghề sửa chữa xe máy, các công cụ sản xuất... Thu nhập bình quân khoảng 50 triệu đồng/năm, cuộc sống của gia đình tương đối ổn định.

Năm 2005, tôi được Bộ Khoa học và Công nghệ tặng Bằng khen với sáng kiến "Phục chế, cải tiến máy lẩy hạt bắp". Ý tưởng này nảy sinh từ năm 2000, tình cờ tôi thấy trên Ðài Truyền hình người nông dân sử dụng máy tuốt bắp, trông rất đơn giản và thuận tiện. Vốn là người chịu khó học hỏi, tôi đi tìm hiểu và tham khảo tại các địa phương lân cận và nhận thấy hầu hết các máy tuốt bắp bán với giá đắt tiền, công suất lớn, cồng kềnh không phù hợp với bà con nông thôn vùng sâu.  Tuy trình độ chuyên môn và khả năng tài chính có hạn, nhưng tôi vẫn kiên trì theo đuổi ý tưởng, và đi tìm mua các phế liệu để tận dụng.

Sau gần nửa tháng mày mò, phục chế, cùng với kinh nghiệm sửa chữa, gò hàn và gia công, lắp đặt thêm các chi tiết để máy hoạt động hoàn chỉnh, sau khi vận hành thử và cải tiến thêm nhiều lần, hoạt động của máy mang lại kết quả rất tốt. Mỗi tấn bắp chỉ trong 1 giờ là tuốt xong, tiêu thụ hết khoảng 1kW điện, tương đương với 20 nhân công  làm việc một ngày.

Tháng 9-2005, tại Hội chợ Công nghệ và Thiết bị Việt Nam, chiếc máy của tôi được Bộ Khoa học và Công nghệ đánh giá rất cao và được đăng ký "Máy tách Bắp" mã số: VN 2932/1835. Tuy nhiên, hiện nay vì không có vốn và vật tư để chế tạo, nên mong muốn của tôi là được các cấp, các ngành quan tâm giúp đỡ hoặc đầu tư cho tôi có thêm vốn, vật tư để sản xuất thêm nhiều máy phục vụ bà con nông dân.

Thiết nghĩ, bà con dân tộc thiểu số hôm nay yên tâm sản xuất và có được cuộc sống ổn định, đó chính là nhờ ơn Ðảng và Nhà nước luôn luôn có những chính sách ưu đãi phù hợp, giúp họ xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc. Bà con nhân dân xã Ðạ Sar quê tôi cũng như các địa phương khác luôn tin tưởng vào Ðảng và Nhà nước, ra sức đoàn kết để xây dựng bảo vệ cuộc sống no ấm và bình yên của mọi nhà.

Ðồng bào công giáo sống tốt đời đẹp đạo

(Trích báo cáo của Linh mục Trần Xuân Cương, xã Ðức Minh, huyện Ðác Mil, tỉnh Ðác Nông)

Ðức Minh là một xã nằm cách trung tâm huyện Ðác Mil ba km về phía đông nam. Diện tích tự nhiên có 3.616 ha, gồm 16 thôn dân tộc Kinh và một bon dân tộc M'Nông. Số dân toàn xã hiện có 2.709 hộ với 14.040 nhân khẩu, trong đó đồng bào dân tộc có 171 hộ với 891 nhân khẩu, đồng bào theo đạo Công giáo có 2.361 hộ với 12.588 giáo dân, chiếm hơn 80% số dân, sinh hoạt tại hai xứ đạo là Vinh An và Xã Ðoài, phần lớn gốc Nghệ An, Hà Tĩnh, làm  ăn sinh sống chủ yếu canh tác lúa nước và cây cà-phê kết hợp chăn nuôi.

Hằng năm UBMTTQ, chính quyền xã và các tổ chức thành viên cùng với hai Hội đồng giáo xứ và 13 Ban hành giáo các họ đạo, phối hợp tổ chức nhiều cuộc họp với bà con, để tuyên truyền đường lối, chính sách của Ðảng, pháp luật của Nhà nước, lồng ghép tuyên truyền chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi... các điển hình làm ăn mới, động viên đồng bào tích cực tìm hiểu các văn bản pháp luật, tham gia các cuộc thi như: Hòa giải viên giỏi, cán bộ phụ nữ giỏi, cán bộ dân vận khéo... Nắm bắt tâm tư nguyện vọng của đồng bào phản ánh với Ðảng, chính quyền để có chính sách giúp đỡ bà con giáo dân như: Vay vốn kinh doanh, sản xuất với dư nợ hằng năm tới 30 tỷ đồng.

Trong các dịp Lễ, Tết, Giáng sinh, Ðảng ủy, HÐND, UBND, UBMTTQ xã đều tổ chức đi thăm hỏi, động viên các linh mục quản xứ, các cộng đoàn tu hội, các hội đồng giáo xứ cũng như thăm hỏi các chức sắc, giáo dân khó khăn, hoạn nạn... Từ những việc làm trên đồng bào Công giáo xã Ðức Minh rất tin tưởng và phấn khởi thực hiện phong trào "Người Công giáo yêu nước". Khối đại đoàn kết toàn dân luôn được tăng cường, tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ở địa phương luôn được giữ vững. Hoạt động tôn giáo ngày càng tiến bộ, với  phương châm "Kính chúa yêu nước".

Trong cuộc vận động "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư", hiện nay có 1.320 hộ được công nhận là gia đình văn hóa, năm họ đạo được công nhận xuất sắc tiên tiến và tám họ đạo đạt sáu nội dung cuộc vận động.

Ðồng bào Công giáo xã Ðức Minh đã nhạy bén, sớm thích nghi với nền sản xuất hàng hóa theo hướng thị trường, từng bước ổn định đời sống, xóa đói, giảm nghèo vươn lên làm giàu chính đáng; đã mạnh dạn chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi thay thế diện tích cà-phê kém năng suất, hoặc điều kiện chăm sóc không thuận tiện, bằng cây ca-cao, cao-su, trồng rừng; áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào đồng ruộng làm ra nhiều lương thực, hàng hóa và của cải. Nhiều hộ mở rộng chăn nuôi, phát triển kinh tế đồi vườn, xây dựng kinh tế trang trại, kinh doanh dịch vụ, vận tải theo hướng sản xuất hàng hóa đạt hiệu quả kinh tế cao.

Nhờ kinh tế phát triển, bà con giáo dân đã  đóng góp công, của nhựa hóa đường giao thông nông thôn, xây dựng mạng lưới điện và hạ tầng cơ sở các trường học, góp phần xóa đói, giảm nghèo, nâng cao chất lượng cuộc sống. Các họ đạo ở khu dân cư Mỹ Yên, Xuân Trang, Vinh Ðức không có hộ nghèo; họ Bình Thuận, Xuân Sơn, Xuân Phong, Thanh Lâm chỉ có tỷ lệ 0,8% hộ nghèo theo chuẩn mới. Toàn xã  tỷ lệ này là  14,3%...

Hiện nay con em đồng bào Công giáo trong xã có năm thạc sĩ, hàng chục kỹ sư, bác sĩ và trăm cháu thi đỗ vào các trường đại học, cao đẳng chuyên nghiệp. Trình độ dân trí xã nhà ngày càng nâng lên rõ rệt, cụ thể là xã đã được công nhận phổ cập tiểu học năm 2001 và phổ cập trung học cơ sở năm 2003.

Hưởng ứng các cuộc vận động như giúp đỡ đồng bào bị thiên tai, lũ lụt, sóng thần, động đất, cuộc vận động "quỹ vì người nghèo" những năm qua giáo dân trong xã Ðức Minh đã tổ chức các hoạt động xã hội - từ thiện - nhân đạo...

Từ năm 2001 đến nay quỹ vì người nghèo của xã đã vận động được 51.546.000 đồng trong đó năm 2001 tu bổ ba căn nhà (một nhà người dân tộc) mỗi nhà trị giá ba triệu đồng. Năm 2005 huy động bà con giáo dân ở khu dân cư được 21 triệu đồng và 50 ngày công, tu bổ cho sáu nhà có hoàn cảnh khó khăn, già cả neo đơn như thưng ván, láng nền, thay thế chất lợp.

Nhận thức được việc sinh đẻ có kế hoạch để xây dựng gia đình và xã hội tiến bộ là việc đúng đắn, do đó giáo dân hưởng ứng tham gia thường xuyên, các linh mục trong các bài giảng lễ đều kết hợp việc truyền đạo với việc tuyên truyền về dân số, kế hoạch hóa gia đình. Việc cưới, việc tang và các hoạt động lễ hội Công giáo đều thực hiện tốt không lãng phí, không kéo dài thời gian...

Thực hiện phong trào "Toàn dân phòng chống tội phạm và các tệ nạn xã hội hoặc nghiện ma túy" đã có 96% số hộ giáo dân đăng ký cam kết "Gia đình không có tội phạm, mắc các tệ nạn xã hội hoặc nghiện ma túy, mua bán, tàng trữ ma túy", thành 91 tổ an ninh nhân dân để tuần tra canh gác ban đêm theo phiên, với các việc làm này đã quản lý, giáo dục cảm hóa những người lầm lỗi tại cộng đồng dân cư có hiệu quả.

Các linh mục, quản xứ, các vị chức sắc thường xuyên nhắc nhở giáo dân chấp hành tốt chính sách của Ðảng, pháp luật của Nhà nước, nhất là Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo, làm tròn nghĩa vụ công dân cũng là trách nhiệm của một giáo hữu Ki Tô giáo, chăm lo xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân, tích cực tham gia xây dựng chính quyền.

Tôn giáo sống trong lòng dân tộc

(Trích phát biểu của Mục sư Y Ky Eban, Ủy viên Ban Trị sự Tổng liên hội Hội thánh Tin lành Việt Nam (miền nam), Ban Ðại diện Tin lành tỉnh Ðác Lắc)

Ðại đoàn kết là truyền thống cực kỳ quý báu của dân tộc ta. Truyền thống đó đã được hun đúc và phát huy cao độ trong thời đại Hồ Chí Minh, do Ðảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Ðại đoàn kết dân tộc là đường lối chiến lược của Ðảng và Nhà nước ta, là tư tưởng xuyên suốt của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại. Truyền thống dân tộc, lịch sử cách mạng Việt Nam đã khẳng định: Ðoàn kết, đại đoàn kết là nhân tố quyết định mọi thắng lợi.

Việt Nam đất nước chúng ta vốn được bạn bè quốc tế đánh giá là một nước có nền an ninh ổn định. Ðiều này không những có tiếng vang trên trường quốc tế, mà còn cụ thể hơn đem lại sự bình an trong buôn làng, bà con chúng tôi được an tâm tăng gia sản xuất và sinh hoạt mọi mặt trong sự an bình. Bà con  tin tưởng nơi Ðảng và Nhà nước luôn làm tất cả để đem lại sự an bình ấm no hạnh phúc cho dân. Vì vậy, là một mục sư, tôi luôn động viên bà con theo đạo Tin lành chấp hành tốt và đầy đủ chính sách của Ðảng, pháp luật của Nhà nước, đề cao cảnh giác trước những luận điệu tuyên truyền sai trái của các thế lực thù địch từ trong và ngoài nước hòng gây mất đoàn kết giữa đồng bào Lương - Giáo, Kinh - Thượng.

Trên thực tế chúng ta đã thấy sự quan tâm của Ðảng đối với bà con theo đạo Tin lành. Năm 2001, Tổng liên hội Hội thánh Tin lành Việt Nam (miền nam) tổ chức Ðại hội đồng lần thứ nhất, và tiếp đến tổ chức Ðại hội đồng lần thứ hai từ ngày 1 đến 4-3-2005. Riêng ở Ðác Lắc chúng tôi có Ban Ðại diện Tin lành tỉnh và năm Chi hội đã Ðại hội. Ngoài ra, đến nay các điểm nhóm thuộc Hội thánh Tin lành Việt Nam (miền nam) ở các huyện và thành phố đã được chính quyền các cấp đăng ký điểm nhóm sinh hoạt bình thường, nhiều thôn, buôn thực hiện cầu nguyện theo lễ nghi của tôn giáo Tin lành. Ðối với đạo Tin lành ở Ðác Lắc có đặc điểm trong quá khứ đã bị các thế lực phản động lợi dụng, có một số ít người nhẹ dạ cả tin, bị ép buộc làm những việc sai trái. Số tín đồ này sau đó đã được Ðảng, Nhà nước giáo dục, hiểu rõ âm mưu của các thế lực thù địch lợi dụng hoạt động tôn giáo, chống phá cách mạng,  cho nên nhiều người đã biểu hiện tiến bộ thật sự.

Bản thân tôi cũng như các chức sắc ở trong Ban Ðại diện, các chấp sự trong các Chi hội cùng toàn thể tín hữu, luôn tin tưởng vào chủ trương, chính sách của Ðảng, Nhà nước về công tác tôn giáo nói chung và đối với đạo Tin lành nói riêng. Chúng tôi luôn giáo dục các tín hữu phải có trách nhiệm đối với xã hội, đối với đất nước, thực hiện đúng với đường hướng của Hội thánh Tin lành Việt Nam (miền nam) là "Sống phúc âm, Phụng sự Thiên chúa, phục vụ Tổ quốc và Dân tộc". Ðộng viên các tín đồ thi đua sản xuất nâng cao đời sống, làm tròn trách nhiệm của người  công dân đối với Nhà nước, góp phần xây dựng đời sống văn hóa ở thôn, buôn; mỗi gia đình tín hữu theo đạo Tin lành phấn đấu trở thành gia đình văn hóa, sống "Tốt đời, đẹp đạo". Không để xảy ra các vụ việc mất trật tự ở thôn, buôn. Giáo dục cho các tín hữu hiểu rằng tôn giáo chân chính không bao giờ có yếu tố của tổ chức hoặc cá nhân ở nước ngoài tham gia lợi dụng. Tôn giáo phải gắn với dân tộc, sống trong lòng dân tộc. Bởi vì cho dù Lương hay Giáo, Kinh hay Thượng thì chúng ta cùng có một quê hương, cũng là một giống nòi, chúng ta cùng chung một người mẹ đó là Tổ quốc Việt Nam thân yêu của chúng ta.

Nhờ Ðảng, Nhà nước giúp đỡ, gia đình tôi thoát nghèo

(Trích phát biểu của bà H'Peo Êban, buôn KaNa, xã Cư Mgar, huyện Cư Mgar, Ðác Lắc)

GIA đình tôi có chín người con, do đông con nên trước đây rất khổ cực, thiếu ăn, hằng ngày phải vào rừng đào củ mài, lấy măng rừng để ăn sống qua ngày. Cho đến khi Ðảng và Nhà nước thực hiện việc đổi mới đất nước và có chính sách giúp đỡ đồng bào dân tộc thiểu số. Gia đình tôi cũng như bà con trong buôn được cấp đất để sản xuất, hướng dẫn khoa học kỹ thuật để làm ăn và cho vay vốn để mua sắm dụng cụ sản xuất. Gia đình tôi được Nhà nước cấp 3 sào ruộng, hằng năm thu hơn 100 bao lúa, đủ dùng cho gia đình và để chăn nuôi, ngoài ra còn có 2 ha cà-phê, hằng năm thu được 6 tấn cà-phê nhân. Gia đình đã liên kết với Nông trường cao-su Cư M'gar trồng 2 ha, năm 2005, thu được 27 triệu đồng từ  cao-su. Ngoài ra còn tổ chức chăn nuôi và trồng cây ăn quả trong vườn. Nhờ biết tiết kiệm, chi tiêu hợp lý và tổ chức sản xuất theo hướng dẫn của cán bộ khuyến nông nên kinh tế gia đình rất ổn định và các con được học hành. Hiện có hai con là giáo viên, hai con là cán bộ xã, một là kỹ sư nông nghiệp công tác tại Krông Búk, hai đang học đại học và một đang học lớp 10. Mỗi năm gia đình tôi thu được hơn 100 triệu đồng. Ngoài ra gia đình tôi còn giúp đỡ 9 hộ bà con nghèo ở trong buôn 27 chỉ vàng không tính lãi để mua phân bón, máy cày và chăn nuôi. Tôi nghĩ, gia đình mình trước đây cũng nghèo như  vậy, nên sẵn lòng giúp bà con.

Gia đình tôi và bà con trong buôn tin tưởng vào sự lãnh đạo của Ðảng và Nhà nước, không tin và nghe theo lời kẻ xấu. Trong năm 2001 và 2004, có kẻ xấu đến dụ dỗ cho tiền và xúi giục tham gia biểu tình vượt biên nhưng chúng tôi không theo.

Gia đình tôi và bà con trong buôn có được cuộc sống ấm no, hạnh phúc như ngày hôm nay là nhờ ơn Ðảng và Nhà nước đã quan tâm, giúp đỡ.

Vận động bà con không nghe lời kẻ xấu

(Trích báo cáo của ông Y Yip, huyện Mang Yang, Gia Lai)

Tôi tên là Y Yip, sinh năm 1953, hiện đang cư trú tại làng Pơ Nang, xã Kon Thụp, huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai. Là một người dân tộc Ba Na, sinh ra và lớn lên ở vùng đất giàu truyền thống cách mạng, nhưng do thiếu hiểu biết, nhẹ dạ cả tin, bị kẻ xấu kích động tư tưởng cực đoan, dân tộc hẹp hòi và chia rẽ dân tộc, nên từ năm 1975 đến năm 1985, tôi tham gia tổ chức phản động Phun-rô với cấp bậc thiếu tá, để hoạt động chống phá chính quyền cách mạng. Năm 1985, tôi bị bắt và được giáo dục. Ðến năm 1987, tôi được Nhà nước khoan hồng cho trở về đoàn tụ với gia đình để làm ăn lương thiện. Ðược sự giúp đỡ tận tình của chính quyền địa phương, sự đùm bọc của bà con dân làng và gia đình, đã giúp tôi ngày càng nhận thức được chỉ có Ðảng và Nhà nước ta mới là người đem lại ấm no, hạnh phúc cho tôi, gia đình và đồng bào Ba Na nói riêng và đồng bào các dân tộc khác của nước ta.

Sau ngày đất nước được giải phóng, Ðảng và Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương chính sách chăm lo phát triển kinh tế - xã hội miền núi, đặc biệt ưu tiên đối với đồng bào dân tộc thiểu số vùng cao, vùng sâu, vùng mới được giải phóng, trong đó có quê hương tôi. Chính điều này làm tôi càng thấy ân hận với những lỗi lầm của mình và quyết tâm phấn đấu trở thành công dân có ích cho xã hội. Ðược sự tin cậy của chính quyền địa phương, từ năm 1987 đến năm 1988 tôi được tham gia đi vận động quần chúng, tuyên truyền cho bà con dân làng hiểu rõ âm mưu, thủ đoạn thâm độc của các thế lực thù địch và bọn phản động Phun-rô lợi dụng người dân tộc thiểu số và những khó khăn về kinh tế, xã hội để kích động, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc Việt Nam, phá hoại thành quả cách mạng của nhân dân ta. Qua các đợt vận động quần chúng, nhiều người lầm lỗi, mắc mưu của kẻ xấu đang lẩn trốn ở ngoài rừng đã trở về đoàn tụ gia đình và làm ăn sinh sống lương thiện với buôn làng.

Năm 2001, số phản động Phun-rô lưu vong đã kích động, lôi kéo, ép buộc một bộ phận đồng bào dân tộc thiểu số nhẹ dạ, cả tin tham gia các hoạt động gây rối, chia rẽ khối đại đoàn kết các dân tộc, đi biểu tình, trốn sang Cam-pu-chia, làm mất ổn định trật tự xã hội và đời sống của nhân dân ở một số địa phương. Việc làm đó sai quá. Là người đã từng bị lầm lỗi, tôi rất đau lòng trước những việc làm sai trái trên.

Năm 2005, chính quyền địa phương tiếp tục phân công tôi tham gia công tác tuyên truyền, vận động quần chúng đấu tranh với kẻ xấu tại 10 làng ở năm xã Ayun, Hra, Ðêar, Kon Thụp và thị trấn Kon Dỡng thuộc huyện Mang Yang với hơn 2.000 lượt người tham dự. Qua các đợt tuyên truyền vận động, bà con dân làng hiểu được âm mưu, thủ đoạn phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc của bọn phản động và quyết tâm không nghe và làm theo lời kẻ xấu, yên tâm làm ăn phát triển kinh tế, góp phần giữ gìn an ninh trật tự ở địa phương. Cùng với sự quan tâm của Ðảng và Nhà nước đầu tư phát triển kinh tế - xã hội, chăm lo đời sống nhân dân, quê hương tôi đang từng bước đổi thay.  Chính sự chăm lo ấy mà bà con dân làng ngày càng tin tưởng hơn vào sự lãnh đạo của Ðảng và sự quản lý của Nhà nước, quyết không nghe, không tin và không theo lời xúi giục của bọn phản động, hăng hái lao động sản xuất, xây dựng cuộc sống bình yên trên quê hương mình.

Có thể bạn quan tâm