40 năm cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân (1968 – 2008)

Thừa Thiên - Huế phát huy truyền thống “tiến công, nổi dậy, anh dũng, kiên cường” trong sự nghiệp xây dựng quê hương giàu đẹp

Cách đây 40 năm, cùng với tiếng súng tiến công địch trên toàn miền nam, quân và dân Thừa Thiên-Huế đã đồng loạt tiến công nổi dậy làm chủ TP Huế 26 ngày đêm. Ðó là sự kiện trọng đại trong lịch sử lãnh đạo cách mạng của Ðảng bộ Thừa Thiên-Huế, góp phần quan trọng tạo ra bước ngoặt quyết định của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

Chiến công xuất sắc của quân và dân Thừa Thiên-Huế đã được Hội nghị chiến tranh du kích  toàn  miền namlần thứ tư (tháng 10-1968) chọn là một trong ba ngọn cờ đầu về chiến tranh du kích và được Bộ Chỉ huy các lực lượng giải phóng miền nam tuyên dương tám chữ vàng: "Tiến công, nổi dậy, anh dũng, kiên cường"(1). 

Dòng chữ trên lá cờ đỏ thắm ấy được dệt từ những chiến công vang dội, có sức mạnh rung chuyển đến chính trường nước Mỹ lúc bấy giờ; dòng chữ ấy có cả sự hy sinh anh dũng của biết bao cán bộ, chiến sĩ và đồng bào chúng ta.

Tất cả đã làm nên những giá trị không bao giờ phai mờ trước lịch sử. Truyền thống hào hùng đó được Ðảng bộ và nhân dân Thừa Thiên - Huế tiếp tục trân trọng kế thừa, giữ gìn và phát huy trong suốt những năm tháng đầy thử thách khốc liệt của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, trong công cuộc hàn gắn vết thương chiến tranh, xây dựng cuộc sống mới.

Truyền thống đó là nguồn sức mạnh tinh thần to lớn để nhân dân Thừa Thiên-Huế tiếp tục nhân lên trong thời kỳ đổi mới, hội nhập và phát triển hiện nay.

Trở lại những ngày Xuân lịch sử cách đây 40 năm, TP Huế nổi lên là một chiến trường xuất sắc nhất. Ðó là một thực tế lịch sử mà ngay cả các sử gia Mỹ cũng phải thừa nhận.

G.Ca-hin và J.Lê-vít, các tác giả của cuốn "Nước Mỹ ở Việt Nam" viết: "Chúng ta đã tổn thất rất nhiều ở Huế. Cuộc chiến đấu ở Huế là mạnh mẽ nhất"(2). Cuốn sách "Sổ tay sự kiện chiến tranh Việt Nam" của hai tác giả Mỹ là Xtên và Líp-xơn viết: "Có phải trận đánh ở Huế là một trận tập hợp lực lượng ở mức cao nhất của cả hai phía tính từ lúc đó? Ðúng! Phía cộng sản gồm hai trung đoàn quân bắc Việt Nam và hai tiểu đoàn công binh, họ đương đầu với một lực lượng hỗn hợp gồm tám  tiểu đoàn bộ binh Mỹ và 13 tiểu đoàn bộ binh ngụy".

Thực chất, theo báo cáo tổng kết của Khu ủy Trị Thiên-Huế, số quân chủ lực của hai bên ở mặt trận Huế những ngày đầu như sau: lực lượng địch có "13 tiểu đoàn bộ binh (tám tiểu đoàn ngụy, năm tiểu đoàn Mỹ), ba tiểu đoàn pháo binh, một tiểu đoàn biệt kích, hai tiểu đoàn công binh, hai tiểu đoàn vận tải, hai tiểu đoàn hải thuyền, ba tiểu đoàn cảnh sát, 100 máy bay các loại... ". Lực lượng ta tham gia đánh chiếm Huế đêm 31-1 có "tất cả tám tiểu đoàn bộ binh, ba tiểu đoàn đặc công, một tiểu đoàn pháo binh" (3). Sau này, khi phản kích chiếm lại Huế, lực lượng của địch đã tăng lên "bốn sư đoàn" (4), khó khăn đối với ta càng tăng lên gấp bội, "Huế đã gánh gồng trên vai một sức nặng vượt quá sức mình" (5).

Sự chênh lệch quá lớn về lực lượng quân sự là một trong những dấu hiệu dẫn đến mức độ ác liệt của chiến trường. Trên thực tế, so với các mặt trận khác trên toàn miền nam, cuộc chiến đấu ở mặt trận Huế dài ngày nhất và ác liệt nhất. Chiến công giữ Huế trong 26 ngày đêm là chiến công xuất sắc nhất.

Ðể có được một TP Huế Anh hùng, một "Thừa Thiên - tiến công, nổi dậy, anh dũng, kiên cường", dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Khu ủy Trị Thiên-Huế,  Ðảng bộ TP Huế, Miền Tây Trị Thiên và các huyện Phú Lộc, Phú Vang, Hương Thủy, Hương Trà, Phong Ðiền, Quảng Ðiền đã đoàn kết một lòng, quyết tâm cao độ trong việc chuẩn bị cũng như suốt quá trình tham gia cuộc tổng tiến công và nổi dậy.

Về công tác chuẩn bị

Xác định đây là một trong những nhân tố quan trọng quyết định thành bại của cuộc tổng tiến công, các tổ chức Ðảng ở Thừa Thiên - Huế đã lãnh đạo quân và dân bí mật triển khai việc chuẩn bị  về  mọi mặt rất công phu và tỷ mỷ.

Chúng ta đã xây dựng nhiều cơ sở bí mật ở vùng ven Huế, tạo thành vành đai chính trị, quân sự bao bọc chung quanh thành phố. Các đồng chí trong Thành ủy Huế, huyện ủy viên các huyện ủy, các cán bộ chính trị, các tổ, các mũi đặc công, biệt động, trinh sát vũ trang, với tinh thần hy sinh dũng cảm đã kiên trì bám trụ, làm nhiệm vụ đánh địch, phá thế kìm kẹp của chúng, vận động nhân dân xây dựng cơ sở cách mạng. Trải qua bao khó khăn, thử thách, cuối năm 1967, ta đã xây dựng nhiều bàn đạp sát nách Huế, tạo nên thế đứng chân, cơ sở của thế tiến công cách mạng.

Nhiều vùng giải phóng đồng bằng đến sát vùng ven được củng cố, làm chỗ dựa vững chắc cho Huế. Lực lượng vũ trang của các huyện và thành phố đã chiến đấu với tinh thần cách mạng tiến công, liên tục đánh bại các cuộc càn quét vào vùng giải phóng của địch.

Trên cơ sở giữ vững thế làm chủ ở miền núi và nhiều địa bàn vùng giáp ranh, các Ðảng bộ đã chủ động lãnh đạo hình thành nhiều tuyến đường giao thông liên lạc bí mật, nối liền ba vùng, xuyên qua các vành đai phòng thủ của địch, qua quốc lộ I, các sông ngòi, thông suốt đến vùng ven Huế, vào tận nội thành. Các tuyến đường giao liên bí mật  sau này đã phát huy tác dụng, bảo đảm  chỉ huy liên tục thông suốt, bảo đảm cho cán bộ, bộ đội đi lại hoạt động trên cả ba vùng, cho các đơn vị hành quân tiếp cận các mục tiêu từ nhiều hướng khác nhau để đồng loạt tiến công vào lúc 2 giờ 33 phút đêm mồng 1, rạng ngày mồng 2 Tết Mậu Thân (theo lịch miền nam).

Về xây dựng lực lượng: Ðến cuối năm 1967, lực lượng chính trị, vũ trang thành phố và các huyện lớn mạnh vượt bậc. Các quận, huyện có 15 đội biệt động, đặc công, trinh sát vũ trang, chia làm nhiều tổ, bí mật bám trụ ở các bàn đạp ven Huế, sẵn sàng đánh chiếm các vị trí then chốt, làm cơ sở cho lực lượng bên ngoài tiến công vào bên trong thành phố. Phối hợp với lực lượng vũ trang làm nhiệm vụ chiến đấu và hỗ trợ cho quần chúng nổi dậy là 45 đội công tác vũ trang , trong đó, có bộ phận làm nhiệm vụ thông tin, báo chí, văn nghệ, có bộ phận làm nhiệm vụ hoa tiêu dẫn đường cho các đơn vị vào thành.

Trong nội thành Huế, các cơ sở Ðảng, cơ sở quần chúng bí mật đã được xây dựng ở nhiều khu phố, trường học, nhà máy... Hơn 1000 cơ sở cốt cán bí mật đã được huấn luyện để vừa làm du kích đánh địch, vừa làm nòng cốt huy động lực lượng quần chúng nổi dậy tham gia chiến đấu và phục vụ chiến đấu. Một số công tác khác như hậu cần, kỷ luật dân vận, kế hoạch vận động nhân sĩ trí thức, các chức sắc tôn giáo tham gia Mặt trận liên minh và chính quyền cách mạng lâm thời, kế hoạch vận động thanh niên tại chỗ tham gia lực lượng vũ trang, bảo quản chiến lợi phẩm, chính sách tù hàng binh... cũng được phối hợp chuẩn bị công phu và chu đáo.

Tuy đảm đương một khối lượng công việc chuẩn bị khá lớn, phải hoàn toàn bí mật, bất ngờ, bảo đảm yêu cầu  kết hợp tiến công và nổi dậy, nổi dậy và tiến công nhưng với quyết tâm cao độ, Ðảng bộ, quân dân TP Huế và các huyện đã cơ bản hoàn thành công việc chuẩn bị vào cuối tháng 1-1968, sẵn sàng xuất quân với khí thế hừng hực tiến công cách mạng "Ðánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào".

Tham gia cuộc tổng tiến công và nổi dậy

Vai trò của lực lượng vũ trang và nhân dân Thừa Thiên-Huế được thể hiện rõ nét trong suốt quá trình 26 ngày đêm (từ 31-1 đến 24-2-1968) chiến đấu giải phóng và bảo vệ thành phố.

Phối hợp tiến công nổi dậy giải phóng TP Huế

Nhờ có thế trận chuẩn bị từ trước, các đơn vị nhanh chóng tiếp cận được mục tiêu đúng giờ. Ngay khi tiếng súng phát lệnh, lực lượng bên trong đã sát cánh cùng lực lượng bên ngoài đánh vào, các đội biệt động, tự vệ đã nhanh chóng đánh chiếm các mục tiêu: Trụ sở Hành chính quận Tả Ngạn, bốt cảnh sát Ðông Ba, đồn cảnh sát ở miếu Ðại Càn, cầu An Cựu... Phối hợp chặt chẽ với bộ đội chủ lực, các đơn vị bộ binh, đặc công, biệt động, trinh sát, các đội công tác vũ trang, đặc biệt là lực lượng quần chúng của TP Huế và các huyện đồng loạt tiến công từ nhiều hướng, nhiều mũi, chiếm lĩnh nhiều mục tiêu quan trọng.

Ðúng 9 giờ ngày 31-1-1968, TP Huế được giải phóng, cờ Mặt trận Liên minh các lực lượng Dân tộc Dân chủ và Hòa bình TP Huế đã phấp phới bay cao trên Kỳ đài Huế.

Cùng với các lực lượng vũ trang, đông đảo nhân dân TP Huế và các huyện đã "nổi dậy xuống đường, mít-tinh hoan hô giải phóng, chuyển thương binh, đào công sự, nấu cơm tiếp tế cho bộ đội, truy lùng ác ôn. Hàng ngàn thanh niên, sinh viên, học sinh tham gia quân giải phóng, lập các đội tự vệ, sát cánh cùng quân giải phóng tiêu diệt địch. Ở các vùng nông thôn, khi biết quân giải phóng đánh chiếm thành phố, hàng chục vạn quần chúng có tổ chức và lãnh đạo đồng loạt nổi dậy... Lực lượng quần chúng phối hợp với lực lượng vũ trang tổ chức phá cầu cống, chặn xe vận chuyển, cắt đứt tiếp tế của địch"(6).

Tại TP Huế, các đoàn thể cách mạng nhanh chóng được hình thành. Hơn 10.000 sĩ quan, binh lính, cảnh sát, nhân viên ngụy quyền ra trình diện, đã thành lập Hội Binh sĩ yêu nước, Ðoàn nghĩa binh cảnh sát yêu nước. Liên minh các lực lượng Dân tộc, Dân chủ và Hòa bình TP Huế ra đời. Ðặc biệt, Ủy ban Nhân dân cách mạng TP Huế được thành lập. Ðây là chính quyền cách mạng cấp tỉnh, thành phố đầu tiên ở miền nam trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

Nhờ kết hợp tiến công quân sự với nổi dậy của quần chúng, cuộc tiến công vào Huế đã trở thành một cuộc vũ trang khởi nghĩa của quần chúng, một cuộc đấu tranh rộng lớn mang đầy đủ tính chất và hình thái của một cuộc cách mạng nhằm lật đổ chính quyền địch, giành chính quyền về tay nhân dân.

Phối hợp đánh địch phản kích

Về phía địch, sau khi bị đòn choáng váng phủ đầu, chúng huy động lực lượng tổng dự bị từ Sài Gòn, Vùng I chiến thuật, Ðường 9 Khe Sanh tập trung về phản kích tái chiếm Huế. Lực lượng địch tại mặt trận Huế được nâng lên 23 tiểu đoàn  (trong đó có 15 tiểu đoàn Mỹ), với đầy đủ các quân, binh chủng. Cuộc chiến đấu chống địch phản kích diễn ra vô cùng ác liệt. Nhiều trận chiến đấu kịch liệt đã diễn ra ở các cửa thành Ðông Ba, Chánh Tây, Thương Tứ, khu vực sân bay Tây Lộc và nhiều nơi khác ở khu Tam giác. Tiểu đội 11 cô gái sông Hương phối hợp chặt chẽ với đơn vị K.10 làm nhiệm vụ cứu thương, phục vụ chiến đấu, góp phần đẩy lùi một tiểu đoàn địch, được Bác Hồ gửi thư khen:

"Dõng dạc tay cầm khẩu súng trường,
Khôn ngoan dàn trận khắp trong phường.
Bác khen các cháu dân quân gái,
Ðánh giặc Hoa Kỳ phải nát xương"

Trước lực lượng địch lớn mạnh gấp nhiều lần về quân số và hỏa lực, quân dân thành phố vẫn ngoan cường chiến đấu. Báo chí phương Tây liên tiếp đưa tin về sự nguy ngập của lính Mỹ ở Huế. Hãng tin Reuters ngày 15-2-1968 đưa tin: "Lính thủy đánh bộ Mỹ đã bị quân cố thủ trong thành phố Huế đánh cho thiệt hại nặng". Bản tin của đài BBC ngày 21-2-1968 cho biết: "Hôm qua, tiểu đoàn lính thủy đánh bộ Mỹ mất một nửa quân số, 50 chết, 250 bị thương, trong tình thế nguy ngập cho phía Mỹ"...

Trên thực tế, khi tiếng súng ở các chiến trường khác dần thưa thớt thì mặt trận Huế vẫn tiếp tục nóng bỏng. Ðảng bộ nhân dân TP Huế và các huyện trong tỉnh đã anh dũng chiến đấu "chia lửa" với miền nam, vì miền nam, vì cả nước. Tuy vậy, do chênh lệch quá lớn về tương quan lực lượng, chúng ta phải rút ra khỏi thành phố. Cuộc chiến đấu kéo dài 26 ngày đêm, tuy có nhiều hy sinh, tổn thất, nhưng thật sự là một kỳ tích anh hùng.

Sự chấn động

Cuộc Tổng tiến công, nổi dậy của quân và dân Thừa Thiên - Huế đã góp phần tác động sâu sắc đến dư luận nước Mỹ. Nhà báo Mỹ Dôn Ô-bơ-đoi-phơ trong cuốn sách có nhan đề "Tết" đã viết như sau: "Cuộc chiến đấu 26 ngày đêm ở Huế đã kéo dài và đẫm máu nhất của cuộc tiến công Tết (Mậu Thân), vì tại đây có rất nhiều lính thủy đánh bộ, vì thành phố đẹp đẽ và cổ kính này bị tàn phá nhiều nên các cơ quan thông tấn đã đưa rất nhiều tin tức và tranh ảnh về Mỹ, gây một ấn tượng rất sâu sắc trong dân chúng Mỹ lúc bấy giờ" (7) "Sự hốt hoảng và phẫn nộ (đối với chính quyền) lại truyền khắp cả nước (Mỹ) do sự thông tin mau lẹ một cách phi thường của các phương tiện thông tin đại chúng" (8).

Sự thực, cuộc chiến đấu dài ngày của quân và dân thành phố Huế, qua vô tuyến truyền hình đã được đưa vào hàng triệu gia đình Mỹ, "các phóng viên truyền hình có mặt đều quay phim cho các buổi tối truyền hình ở Mỹ, để hàng triệu người Mỹ thấy bi kịch về hành động của chồng, con và anh em họ ở chiến trường" (9). Một phong trào phản đối chiến tranh dấy lên mạnh mẽ ở ngay trong nước Mỹ.

Ngày 31-3-1968, Tổng thống Mỹ Johnson phải tuyên bố ba điểm: Ðơn phương ngừng đánh phá miền bắc từ vĩ tuyến 20 trở ra, nhận đàm phán với ta tại Hội nghị Paris và không ra tranh cử Tổng thống Mỹ nhiệm kỳ 2 nữa. Ðó là sự thừa nhận đầu tiên nhưng đầy đủ nhất về sự phá sản của chiến lược "Chiến tranh cục bộ" của Mỹ.

Như vậy, cùng với cuộc tiến công nổi dậy trên các đô thị của miền nam, cuộc tổng tiến công và nổi dậy của quân dân Thừa Thiên-Huế đã có tiếng vang lớn, góp phần tạo ra bước ngoặt quan trọng đánh bại chiến lược "Chiến tranh cục bộ", buộc đế quốc Mỹ phải ngừng ném bom cục bộ ở miền bắc, ngồi vào bàn đàm phán tại Hội nghị Paris, mở đường đánh cho "Mỹ cút, ngụy nhào", tiến tới Tổng tiến công mùa Xuân năm 1975, giải phóng hoàn toàn miền nam, thống nhất Tổ quốc.

Hoàn toàn không phải ngẫu nhiên mà quân và dân Thừa Thiên-Huế được vinh dự tuyên dương tám chữ vàng "Tiến công, nổi dậy, anh dũng, kiên cường" -  một trong ba ngọn cờ đầu của chiến tranh du kích toàn miền nam trong Xuân Mậu Thân 1968. Danh hiệu đó được kết tinh từ quá trình chuẩn bị hết sức công phu, tỉ mỉ và bí mật, từ sự phối hợp nhịp nhàng giữa tiến công và nổi dậy, nổi dậy và tiến công trong suốt 26 ngày đêm.

Danh hiệu cao quý đó thể hiện sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân;  quân với dân một ý chí, một hành động; thể hiện tinh thần xả thân vì sự nghiệp giải phóng quê hương, thống nhất đất nước. Danh hiệu đó đã trở thành truyền thống quý báu, nguồn sức mạnh to lớn để quân và dân Thừa Thiên-Huế tiếp tục vượt qua những khó khăn chồng chất sau Tết Mậu Thân 1968, khôi phục và phát triển phong trào, tiến lên giành những thắng lợi to lớn hơn.

Nối tiếp truyền thống vẻ vang của cuộc Tổng tiến công nổi dậy Tết Mậu Thân 1968, 40 năm qua, Ðảng bộ và nhân dân Thừa Thiên-Huế đã đoàn kết một lòng, vượt qua nhiều thử thách trong sự nghiệp giải phóng dân tộc và xây dựng quê hương ngày càng giàu đẹp.

Trong cuộc Tổng tiến công nổi dậy Xuân 1975, phối hợp nhịp nhàng với Quân đoàn II và các đơn vị quân giải phóng, quân dân Thừa Thiên-Huế chiến đấu kiên cường, tiến công địch dồn dập, giải phóng hoàn toàn Thừa Thiên-Huế ngày 26-3-1975, tạo điều kiện cho chiến dịch Huế - Ðà Nẵng hoàn thành nhiệm vụ lịch sử của một trong ba chiến dịch quyết định đại thắng Xuân 1975. Chiến công to lớn đó đã được Trung ương Ðảng điện khen: "Việc đánh chiếm giải phóng TP Huế và tỉnh Thừa Thiên là thắng lợi có ý nghĩa chiến lược về chính trị rất lớn... đã làm cho cả nước ta nức lòng phấn khởi, làm cho địch suy yếu thêm một bước nghiêm trọng... góp phần làm rạng rỡ truyền thống anh dũng kiên cường...".

Sau ngày quê hương giải phóng, trước muôn vàn khó khăn phức tạp, Ðảng bộ và nhân dân Thừa Thiên-Huế tiếp tục phát huy ý chí cách mạng tiến công, thực hiện nhiệm vụ hàn gắn vết thương chiến tranh, khôi phục, phát triển kinh tế - xã hội và quyết tâm thực hiện đường lối đổi mới của Ðảng.

Hơn 20 năm đi lên trong sự nghiệp đổi mới, Thừa Thiên - Huế đã có những bước tiến "có tính toàn diện, lịch sử trên các lĩnh vực. Nổi bật là nền kinh tế đã chuyển mạnh sang sản xuất hàng hóa nhiều thành phần. Văn hóa - xã hội phát triển toàn diện; đời sống nhân dân cải thiện rõ; niềm tin của nhân dân được củng cố, ngày càng tin tưởng hơn vào sự lãnh đạo của Ðảng. Quốc phòng an ninh tăng cường và giữ vững. Hệ thống chính trị trưởng thành lớn mạnh. Thế và lực của tỉnh mạnh gấp nhiều lần so với trước, đã và đang mở ra những tiền đề vững chắc để tiếp tục thực hiện thắng lợi công cuộc đổi mới theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế" (10).

Quá trình phát triển đã nhất quán các quan điểm: tăng trưởng kinh tế đi đôi với tiến bộ, công bằng xã hội; phát triển kinh tế là trung tâm, xây dựng Ðảng là then chốt, phát triển văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội; xây dựng thành công và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN là hai nhiệm vụ chiến lược trọng yếu.

Những năm gần đây, bằng sự nỗ lực phấn đấu vượt bậc, Ðảng bộ, chính quyền và nhân dân Thừa Thiên - Huế đã nắm bắt thời cơ và vị thế phát triển của đất nước, phát huy tinh thần cách mạng tiến công, chủ động, sáng tạo vượt qua những khó khăn, thách thức do dịch bệnh, thiên tai gây ra, thúc đẩy nền kinh tế tiếp tục tăng trưởng với tốc độ cao. Nhiều lĩnh vực kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng có sự chuyển biến mạnh mẽ, đáp ứng nhu cầu phát triển trong thời kỳ hội nhập.

Chuyển biến rõ rệt nhất là kinh tế. Năm 2007, tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt 13,6%, tiếp tục đạt mức cao nhất trong mười năm qua và thuộc nhóm các tỉnh có tốc độ tăng trưởng cao thứ hai trong toàn quốc. Thu ngân sách đạt hơn 1.500 tỷ đồng, xếp thứ 20/64 tỉnh, thành phố của cả nước. Chỉ số xếp hạng mức độ sẵn sàng cho ứng dụng công nghệ thông tin của tỉnh so với cả nước (công bố ngày 14-9-2007) có sự bứt phá vượt bậc từ vị trí thứ 12 năm 2005 lên vị trí thứ tư. Chỉ số mức độ cạnh tranh (PCI) tăng từ vị trí thứ 38 lên vị trí thứ 15 trên toàn quốc.

40 năm qua kể từ mùa Xuân 1968, TP Huế bị đạn bom Mỹ tàn phá  năm xưa nay đã trở thành đô thị loại I cấp quốc gia, thành phố Festival đặc trưng của Việt Nam; sân bay quân sự Phú Bài, nơi đế quốc Mỹ dùng để vận chuyển, tập kết lực lượng, vũ khí và phương tiện chiến tranh đàn áp phong trào cách mạng, nay trở thành cảng hàng không quốc tế đưa đón khách muôn phương về tham quan Cố Ðô - Di sản văn hóa nhân loại. Nhân dân đã trở thành chủ nhân của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội trên quê hương Thừa Thiên-Huế. 

Mang trong mình hào khí "tiến công, nổi dậy, anh dũng, kiên cường", từ một tỉnh bị đế quốc chiếm đóng, sau 40 năm, Thừa Thiên-Huế đã chuyển mình trở thành một tỉnh có vị thế trong khu vực miền trung Tây Nguyên và đang vươn lên mạnh mẽ cùng cả nước trong thời kỳ đổi mới và hội nhập.

Nhìn lại hành trình 40 năm qua, Ðảng bộ và nhân dân Thừa Thiên-Huế tự hào vì tinh thần, khí thế của mùa Xuân lịch sử "tiến công, nổi dậy, anh dũng, kiên cường" vẫn luôn là nguồn sức mạnh truyền nối quá khứ vẻ vang của lịch sử vào mỗi chặng đường phát triển của quê hương; là hành trang quý báu được chuyển thành quyết tâm chiến thắng đói nghèo, lạc hậu, vì mục tiêu xây dựng Thừa Thiên-Huế thành tỉnh phát triển mạnh của vùng kinh tế trọng điểm miền trung và cả nước.

---------------------------

(1). Trung tâm Khoa học xã hội và Nhân văn Quốc gia, Viện Sử học, Việt Nam những sự kiện lịch sử (1945 - 1975), NXB Giáo dục, Hà Nội, 2002, tr. 396 - 396.

(2). Dẫn lại theo Tô Vĩnh Hà, Huế tấn công nổi dậy - 30 năm nhìn lại, Tạp chí Sông Hương số Xuân Mậu Dần 1998, tr.15.

(3). Tỉnh ủy Thừa Thiên - Huế, Thừa Thiên - Huế tiến công - nổi dậy - anh dũng - kiên cường Xuân 1968, NXB Thuận Hóa, Huế, 1998, tr. 35, 42.

(4), (5). Thành ủy Huế, Huế - Xuân 68 (tái bản lần thứ nhất), Huế, 2002, tr.72.

(6). Khu ủy Trị Thiên-Huế, Báo cáo Tổng kết Chiến dịch Xuân hè năm 1968.

(7), (8). Don Oberdoifer, Tết, Nhà xuất bản Tổng hợp An Giang, 1988, tr.96, 103.

(9). Thành ủy, Ủy ban Nhân dân TP Hồ Chí Minh - Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam, Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân - 1968, Nhà xuất bản QÐND, HN, 1998, tr.413.

(10). Tỉnh ủy Thừa Thiên-Huế, Văn kiện đại hội đại biểu tỉnh Thừa Thiên-Huế lần thứ 13 nhiệm kỳ 2005 - 2010, tr.43.

Có thể bạn quan tâm