Hiệp hội thức ăn chăn nuôi Việt Nam đánh giá thức ăn chăn nuôi có vai trò đặc biệt quan trọng trong chăn nuôi vì chiếm 65 - 75% giá thành sản phẩm. Các chuyên gia cho rằng sự phát triển đáng khích lệ của ngành chăn nuôi hơn 10 năm qua đã kéo theo sự phát triển mạnh mẽ của ngành sản xuất thức ăn chăn nuôi (TĂCN).
Tuy nhiên, trong xu hướng phát triển khả quan như vậy, vẫn còn nhiều điều phải quan tâm giải quyết đặc biệt là làm gì để giảm được giá thành TĂCN, giữa lúc giá TĂCN của Việt Nam vẫn cao hơn các nước trong khu vực và thế giới 15-20%.
Theo tính toán của Cục Nông nghiệp, từ năm 1990 đến nay tất cả các loài vật nuôi như lợn, bò, trâu, gia cầm, hay như một số loài được nuôi trên phạm vi hẹp như cừu, hươu, dê đều tăng trên 6% về số lượng, cao hơn tất cả những nước có nền nông nghiệp phát triển như Thái-lan, Trung Quốc hay Nhật Bản. Song hành với sự phát triển của ngành chăn nuôi, hàng loạt doanh nghiệp, cơ sở sản xuất TĂCN ra đời. Năm 1990, cả nước mới có 65 cơ sở sản xuất TĂCN với công suất trung bình 12.000 tấn/năm. Hiện nay, cả nước đã có 197 doanh nghiệp sản xuất TĂCN với tổng công suất 5,44 triệu tấn/năm.
Nguyên liệu ngoại nhập "kích" giá lên cao
Sự phát triển sản xuất TĂCN Việt Nam có sự đóng góp rất lớn của chính sách đổi mới với sự tham gia mạnh mẽ của thành phần kinh tế ngoài quốc doanh. 147/182 doanh nghiệp sản xuất TĂCN là các công ty cổ phần, công ty tư nhân, công ty nước ngoài và liên doanh, tương đương 88,7% tổng công suất sản xuất TĂCN cả nước. Nhiều tập đoàn danh tiếng nước ngoài như CP (Thái-lan), New Hope (Trung Quốc), Tập đoàn nông lâm (Đài Loan), Beyer (Đức), đã có mặt ở Việt Nam thực sự làm thay đổi cả về chất và lượng của ngành sản xuất TĂCN. Điều này có thể được nhận ra bằng sư phong phú đa dạng chủng loại sản phẩm cũng như khối lượng thức ăn chăn nuôi công nghiệp được sử dụng tăng theo thời gian. Năm 2000 lượng TĂCN công nghiệp chiếm 25% lượng thức ăn tinh được sử dụng, đến năm 2003 đã tăng lên 33,4%.
Nhưng ngay cả khi các công ty nước ngoài có mặt tại Việt Nam để tận dụng lợi thế nhân công rẻ thì giá TĂCN của họ sản xuất ra vẫn ở mức cao. Theo Hiệp hội thức ăn chăn nuôi Việt Nam, một trong những nguyên nhân chính làm giá TĂCN cao như vậy là do một tấn TĂCN được chế biến ở nước ta có đến 50-60% là giá trị nguyên liệu ngoại nhập. Việt Nam thiếu nguyên liệu giàu năng lượng như ngô, nguyên liệu giàu Protein như bột cá chất lượng cao, khô dầu các loại, những thành phần quan trọng trong TĂCN. Hằng năm Việt Nam phải nhập khẩu hàng trăm nghìn tấn ngô với giá thực tế cao do thuế nhập khẩu 5% cước vận chuyển tàu biển tăng lên trong thời gian gần đây. Hằng năm Việt Nam phải nhập khẩu 800-900 nghìn tấn khô dầu các loại/năm. Các thành phần cần thiết cho chế biến TĂCN như Lysine, Methionine, Vitamin, khoáng vô cơ, khoáng hữu cơ, vi lượng, chất chống mốc, chất ô-xy hóa, men tiêu hóa, hương liệu, kháng sinh phải nhập khẩu 100%. Hằng năm nhu cầu bột cá chất lượng tốt sử dụng cho chăn nuôi khoảng 250-300 nghìn tấn, trong nước chỉ mới cung cấp được 30 - 40%. Thuế nhập khẩu các nguyên liệu này là 10% cho bột cá, và tới 20% cho Lysine.
Hiện nay nhận thức cũng như cách thức chăn nuôi ngày càng thay đổi theo hướng tăng tỷ lệ thức ăn công nghiệp trong lượng thức ăn tinh. Các chuyên gia ngành chăn nuôi đánh giá thức ăn công nghiệp đang được "cưng chiều" vì tốc độ tăng cầu luôn cao hơn rất nhiều so với tốc độ tăng cung. Vì để mở một trại chăn nuôi người ta chỉ mất nhiều nhất là một tháng, trong khi để mở một nhà máy sản xuất TĂCN phải mất hàng năm. Chẳng hạn như Công ty Hà Việt vừa hoàn thành nhà máy sản xuất TĂCN 150.000 tấn/năm thông báo là phải mất ba năm nhà máy mới có thể hoạt động hết công suất. Sự chênh lệch cung cầu có thể được coi là một trong những nguyên nhân quan trọng làm giá thức ăn chăn nuôi ở Việt Nam luôn cao hơn thế giới.
Biện pháp san bằng khoảng cách
Biện pháp quan trọng nhất là giảm sự phụ thuộc về mặt nguyên liệu sản xuất thức ăn chăn nuôi đối với các nguồn ngoại nhập. Hiệp hội thức ăn chăn nuôi Việt Nam cho rằng cần đầu tư tạo đủ nguồn thức ăn giàu năng lượng. Nếu sử dụng 10 - 15% cám và gạo gãy từ nguồn xay xát lúa gạo cũng mới chỉ có 4,5 đến 5 triệu tấn. Vì vậy cần mở rộng diện tích trồng ngô lên một triệu ha (hiện nay mới chỉ có 800.000ha), đồng thời nâng năng suất ngô từ 2,8 tấn/ha lên khoảng 3,5 tấn/ha. Các chuyên gia của Bộ NN-PTNT cho rằng điều này hoàn toàn có thể làm được. Bởi vì thứ nhất năng suất ngô của Việt Nam thấp là vì giống chưa tốt, đầu tư cho thuỷ lợi, phân bón chưa tốt. Hiện nay, năng suất ngô của Mỹ tới 7 tấn/ha, điều này cho thấy khả năng tăng năng suất ngô là có thể. Theo đề nghị của Hiệp hội thức ăn chăn nuôi Việt Nam thì cần tăng diện tích trồng sắn lên 300 - 400 nghìn ha, đẩy mạnh thâm canh đưa năng suất lên 6-7 tấn/ha, bảo đảm đủ 2,5-3 triệu tấn sắn phục vụ chăn nuôi gia đình và sản xuất thức ăn công nghiệp.
Hiệp hội cho rằng cần khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư đổi mới trang thiết bị, đầu tư công nghệ sấy, hấp, cải tiến phương thức gom nguyên liệu bột cá, nhằm bảo đảm chất lượng bột cá sản xuất trong nước đạt 55% Protein thô trở lên. Bên cạnh đó, lượng khô dầu do trong nước sản xuất có thể được vài trăm nghìn tấn nhưng không được ưa chuộng vì nhiễm nấm mốc, độc tố cao. Nguyên nhân chính của tình trạng này là do bảo quản, công nghệ trừ khử nấm mốc, độc tố còn yếu. Cho nên, việc phối hợp các ngành công nghiệp, hóa dược, hóa công nghiệp, đầu tư nghiên cứu công nghệ sản xuất khoáng vô cơ, khoáng hữu cơ, vi lượng bằng nguyên liệu sẵn có trong nước. Ưu tiên khuyến khích các nhà khoa học, các doanh nghiệp trong nước và ngoài nước đầu tư công nghệ cao, sản xuất các nguyên liệu như Lysine, Methionine, Threonin, Cytin, chất ôxy hóa, chất chống mốc, hương liệu, men tiêu hóa... hạn chế các doanh nghiệp nước ngoài đầu tư làm thức ăn hoàn chỉnh tại Việt Nam.
Trước mắt để kịp thời giảm giá TĂCN, Hiệp hội đề xuất việc tổ chức thông tin thường xuyên giá cả nguyên liệu thức ăn chăn nuôi, tránh tình trạng tự ý nâng giá của các công ty, đại lý. Theo đó, Bộ NN-PTNT nên giao cho Trung tâm thông tin của Bộ mở chuyên mục thông tin giá cả TĂCN trên trang Web của mình cập nhật tình hình giá cả TĂCN trong nước, khu vực và thế giới. Ngoài ra, việc giảm thuế nhập khẩu các loại nguyên liệu TĂCN cũng là biện pháp góp phần giảm nhanh giá TĂCN.
Về lâu dài phải thực hiện các biện pháp dài hạn để có thể chủ động nguồn nguyên liệu sản xuất TĂCN trong nước, đặc biệt là các nguyên liệu chính quyết định giá thành sản phẩm như ngô, dầu cá, và các chất khoáng.