Thới Thuận thoát nghèo, vươn tới làm giàu

Theo đường 883, chạy dọc cù lao An Hóa chừng 50 km, đến ngã tư Tán Dù rẽ trái, gió từ biển thổi vào ào ào, bụi bay mù mịt. Ðến bến đò Vũng Luông, phía bên kia là Thới Thuận (huyện Bình Ðại), một xã Anh hùng trong thời kỳ chống Mỹ.

Ngồi chờ đò, hỏi những người cùng cảnh ngộ: Ðường rộng, sao mà còn bụi thế? Họ bảo: "Ðược vậy là tốt lắm rồi, chứ 5 - 7 năm trở về trước là lội bộ, còn trước nữa thì toàn là rừng, làm gì có đường mà đi.

"Gian nan chi xiết kể"

Ðó là những lời của ông già râu tóc bạc hoe, da xám sậm, đúng là người đã từng dãi nắng dầm sương ở vùng nước mặn. Vào tuổi 83, nhưng trông ông còn rất khỏe. Chị chủ quán nước gọi là ông Bảy Khoan. Theo ông Bảy, Thới Thuận là xã cù lao. Vì bên ngoài là biển, bên trong đất liền bị chia cắt bằng con sông Vũng Luông. Diện tích tự nhiên của xã chỉ có 5.445 ha, mà các loại cồn, hồ, rạch, sông, mương,  búng,... đều có cả.

Ðường đi ở Thới Thuận trắc trở lắm, dân địa phương có câu: "Chèo ghe sợ sấu cắn chưn. Xuống bưng sợ đỉa, lên rừng sợ ma" ("ma" ở đây là cọp). Trên đất liền thì có giồng, ít thôi, nổi tiếng là Giồng Trâu Cheo, nay thuộc ấp Thới An. Tương truyền rằng trước đây, trong ấp có một cụ già nuôi được một con trâu, có lẽ vì nó không dạn dĩ cho lắm, nên cụ gán cho cái tên là "cheo". Cheo sinh nghé con. Một hôm, đêm xuống cọp về bắt nghé. Vì thương con, Cheo "bậm gan" đuổi theo húc chết cọp. Sáng hôm sau tìm thấy Cheo đang ghì xác cọp vào gốc cây mắm, dân làng đem Cheo về, hôm sau Cheo chết. Giồng có tên Trâu Cheo kể từ đó.

Ðó là xa xưa. Còn thời chiến tranh sao chú? - tôi hỏi ông Bảy. "Khó khăn lắm. Suốt hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, cứu nước, đây là căn cứ của cách mạng. Vất vả với thiên nhiên chưa đủ, con người ở đây còn nếm đủ thứ mùi bom đạn, khu trù mật cũng có, ấp tân sinh, ấp chiến lược không sao kể xiết".

Ðang nói, bỗng nhiên ông Bảy hỏi lại: Chú có biết vì sao gọi là Cồn Bà Tư không? Tôi chưa kịp trả lời thì ông tiếp: "Như vầy nè, tên cồn trước đây gọi là Cồn Trẹt, còn như thế nào là "Trẹt" thì tôi không biết, nhưng "Bà Tư" là người có tên thật là Võ Thị Phò, bà ở đây từ nhỏ, nuôi giấu cán bộ, nên còn gọi là Má Tư. Bà được Nhà nước phong danh hiệu Bà mẹ Việt Nam Anh hùng. Bà nuôi giấu cán bộ, lính biết mà không làm gì bà được, hết dụ dỗ rồi trấn áp, đốt nhà. Cất đi, cất lại sáu bảy lần bà tức quá, bà khoét đất cát làm hầm để ở, vừa tránh được bom đạn, lại vừa không bị "đốt nhà". Lính lại tiếp tục biểu bà dời nhà, bà lại nói đất đai, mồ mả ở đây, nhà không có, chỉ có cái hầm này, mấy ông muốn tôi đi thì làm ơn chở miếng đất này đi theo. Quả là "Sống trong cát, chết vùi trong cát. Những trái tim như ngọc sáng ngời" thật là hay". Bao nhiêu đó thôi cũng đủ nói lên con người ở đây là quá vất vả.

Tiềm năng dồi dào, khai thác hiệu quả

Ðường đi trắc trở, sinh hoạt khó khăn, nhưng bù lại Thới Thuận có 19 km bờ biển, cùng với hệ thống chằng chịt của sông, rạch, ao, hồ,... nằm trong đất liền, là môi trường thuận lợi cho  nhiều loại thủy sản nổi tiếng như nghêu, sò huyết, tôm, cua biển, cá kèo, con rươi phát triển,... Con nghêu là loại thủy sản phổ biến ở đây. Ðất chưa khai thác hết, chỉ tính riêng phần của hợp tác xã Rạng Ðông thì đã là 900 ha.

Trước đây mạnh ai nấy đánh bắt thủy sản, thiên nhiên ưu đãi mà nghèo vẫn hoàn nghèo. Mấy năm trở lại đây, người dân thành lập hợp tác xã, thu nhập tăng lên. Hiện có một hợp tác xã tên là Rạng Ðông. Hỏi anh Sáu Ức ở ấp Thới Lợi 2 về làm ăn tập thể hay cá thể đối với con nghêu? Anh bảo: "Ðâu được chú. Bằng mọi giá phải tăng cường hoạt động của hợp tác xã, không để sai phạm. Hợp tác xã mà rã thì dân chết chú à". Ngoài hợp tác xã, còn có 28 tổ nghề nghiệp, khai thác chủ yếu trên lĩnh vực thủy sản, cũng nuôi nghêu, sò, cua và cá. Kinh tế hộ cũng không kém, chỉ sau hơn hai năm phát động, mà đã có hơn 209 hộ đủ điều kiện công nhận trang trại. Tuy còn ít, nhưng đã thật sự mở ra cho một cách thức làm ăn lớn.

Thới Thuận còn có con tôm. Hầu như loại nào cũng có, từ tôm hùm, tôm thẻ, tôm đất, tôm bạc, tôm tích, tôm càng, đến các loại thông thường như tôm sắc, tôm chong, tôm gọng, tôm trứng,... Trước đây, nhiều nhất là tôm thẻ, mấy năm nay  tôm sú cũng nhiều. Tôm không chỉ ở biển, sông, rạch, mà nay còn ở các ngư trường. Có lẽ cái bản chất tập thể, đoàn kết, thủy chung, cùng sẻ chia đã hằn sâu vào con người ở đây từ thời lập làng, nay lại tiếp tục được phát huy trong việc làm ăn hợp tác nuôi tôm công nghiệp trên 150 ha, mấy năm liền vẫn đạt kết quả rất cao, năm nào cũng 5 - 7 tấn/ha. Ngoài mô hình nuôi công nghiệp, xã còn hơn 1.500 ha nuôi tôm quảng canh, nhà khít nhà, đất liền đất, tối lửa tắt đèn có nhau, nên con tôm cũng ít bệnh, giúp người dân đổi đời.

Sò huyết là một lợi thế của xã này, hiện có khoảng 126 ha, nhưng sản lượng đạt hơn 2.000 tấn. Không chỉ nuôi ở bãi bùn của sông, rạch, người dân còn sáng tạo nuôi sò huyết ngay trong các vuông tôm quảng canh. Trên tôm dưới sò. Hằng tháng thu tôm, cuối năm thu sò. Chỉ có sò thôi, trừ đi sò giống, những hộ này, lời bình quân cũng 150 triệu đồng/ha trở lên.

 Nước mắm rươi, còn gọi là nước mắm ngự, cũng là đặc sản của Thới Thuận. Ngày xưa rươi có nhiều, nay còn ít, vì đã tăng diện tích nuôi tôm. Dân Thới Thuận gìn giữ món ăn này không chỉ vì đặc sản, mà còn là giữ nét sinh hoạt của dân tộc về cách ăn rươi và làm nước mắm rươi của người xưa.

Hằng năm, cứ vào tháng 11, tháng chạp âm lịch là rươi lại từng đàn, từ các cánh rừng lũ lượt kéo ra đỏ cả một khúc rạch. Dân trong vùng đi vớt rươi vui như trảy hội. Có năm rươi nhiều, cho đến chiều 30 Tết mà vẫn còn người đi vớt rươi. Vớt xong, đem về đổ vô mái hoặc khạp, cho muối vào, cứ 6 rươi 1 muối, đậy lại làm mắm. Nước mắm rươi có hai loại, nước mắm nấu và nước mắm chang. Nước mắm nấu thì nhanh, rươi ủ mắm khoảng 1 đến 2 tháng là nấu và ăn được.

Còn nước mắm chang cần phải có thời gian lâu hơn, ít nhất là 6 tháng. Nhưng cả hai loại nếu để càng lâu càng ngon. Nước mắm rươi có mùi thơm đặc trưng và độ đạm rất cao. Thịt heo luộc kèm với ít lá rau thơm mà chấm với nước mắm rươi thì hương lẫn vị càng đậm đà.

Một đặc sản nữa ở Thới Thuận là dưa hấu. Dưa đỏ thẫm, ngọt dịu và thơm. Sở dĩ dưa ở đây ngon là do bón phân cá. Ngày xưa dưa tròn, trái lớn, khó vận chuyển. Nay đổi giống mới, trái nhỏ, hơi dài nhưng bù lại vận chuyển dễ, để lâu, vị ngọt và thơm hơn, nên dưa được bán đi nhiều nơi.

Bên cạnh dưa còn có mãng cầu ta, mà bà con ở miền ngoài gọi là trái na. Loại mãng cầu dai, rất thơm và ngọt, múi lớn, hạt nhỏ, ăn tới đâu bóc vỏ tới đó. Xoài ở Thới Thuận cho trái thường muộn hơn so với miệt vườn, nên trở thành mùa nghịch, giá cao, mỗi vụ một ha thu về 50 - 60 triệu đồng. Nhờ lao động chăm chỉ và chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi hợp lý, cuộc sống của dân Thới Thuận nay đã khác xưa, thu nhập sau 5 năm tăng gần gấp đôi, cuối 2005 đã ở mức 8,8 triệu đồng/người. Không còn hộ đói, nghèo chỉ còn dưới 2% theo tiêu chí cũ.

Khát khao làm giàu

Mức thu nhập bình quân 8,8 triệu đồng nói trên không phải do hoàn toàn từ bàn tay và khối óc của con người làm ra, mà là "trời phú" đã hơn phân nửa. Nghĩa là, chưa khai thác hết tiềm năng của thiên nhiên mang lại. Hơn ai hết Thới Thuận đã thấy rõ vấn đề này.

Cái khó của Thới Thuận hiện nay trước hết là giao thông bộ. Những con đường chính trong xã chưa được trải nhựa, xi-măng, bụi vẫn còn bay mù mịt. Cây cầu Vũng Luông có nhiệm vụ nối mảnh đất Thới Thuận với bờ đã khởi công đầu năm 2005, đến nay đã gác dầm xong, cố gắng 30-4 này thông xe, nhưng thiếu vốn thi công phải dừng lại ở đó. Muốn đổi đời, Thới Thuận phải có nước ngọt sinh hoạt hợp vệ sinh. Dự kiến xây nhà máy nước tốn hơn ba tỷ đồng, trong khi Hợp tác xã nghêu Rạng Ðông cả năm trời, mới dành dụm được hơn một tỷ đồng, còn thiếu hai tỷ đồng, dân phải đóng góp thêm 500 triệu đồng, mới đủ tiền thi công. Chủ nhiệm hợp tác xã  trưng cầu ý kiến, xã viên "nhăn mặt", nhưng vẫn giơ tay đồng ý, chỉ vì công trình đó có ý nghĩa quan trọng với đời sống của bà con. Người Thới Thuận đã sẵn sàng, chỉ cần có cầu, có đường, có nước thì con người ở đây sẽ đưa thu nhập bình quân đầu người từ mức 8,8 triệu đồng hiện nay lên 12 - 13 triệu đồng vào năm 2010 là điều không mấy khó khăn.

Nằm giữa hai cửa sông lớn - Ba Lai và Cửa Ðại, và là mũi tiền tiêu của cù lao An Hóa, phần đất "cù lao" Thới Thuận vẫn hiên ngang từng ngày, từng ngày đối mặt với sóng gió để vươn ra biển cả. Thới Thuận nay đang từng bước làm giàu cho riêng mình và góp phần làm rạng rỡ quê hương.

Có thể bạn quan tâm