Đó là những câu thơ mang tình cảm thắm thiết, tứ thơ chắc khỏe, khí thơ hùng mạnh:
Ơi cái làng của mẹ sinh con
Có ngôi nhà xây bằng đá hộc
Có con đường trâu bò đi vàng đen kìn kịt
Có niềm vui lúa chín tràn trề
Có tình yêu tan tành tiếng thác
Vang lên trời, vọng xuống đất
Cái tên làng Hiếu Lễ của con.
Rồi từ đó Y Phương liên tục viết, liên tục đoạt những giải thưởng cao: Giải A giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam năm 1987 cho tập Tiếng hát tháng giêng; giải nhì giải thưởng văn học Bộ Quốc phòng năm 1994 - 1999 cho tập Chín tháng (tập này cũng đoạt giải nhì Liên hiệp các hội Văn học nghệ thuật Việt Nam); giải A giải thưởng Hội đồng văn học dân tộc và miền núi cho tập thơ Lời chúc; giải ba cuộc thi thơ báo Văn nghệ năm 1991...
Nhà thơ Y Phương tên thật là Hứa Vĩnh Sước, sinh năm 1948 tại làng Hiếu Lễ, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng. Anh tham gia quân đội từ năm 1968 - 1981, trực tiếp chiến đấu trên các chiến trường ở mặt trận phía nam và biên giới phía bắc. Một người đã sống giữa yên bình, trong trẻo của rừng suối và cũng nhòa nhịt khói bom, mảnh đạn trong cơ thể, trong hồn.
Nếu xét về mặt hình thức, thơ Y Phương có hai mảng đề tài rõ rệt: tình yêu quê hương và chiến tranh; về mặt giọng điệu là cách nghĩ, cách nói của người Tày vùng cao, chẳng hạn: Khẩu súng đeo quanh người; Người đeo quanh núi...
Tôi đọc thơ thường không chú ý đặc biệt đến xuất xứ tác giả, thời gian, không gian... mà chú ý nhất tới bản chất thơ, tới những phát hiện độc đáo và khả năng truyền cảm của chính bài thơ đó, tác giả đó.
Tôi cũng không muốn xem Y Phương như một nhà thơ của dân tộc thiểu số và cái hay của anh là ở cách nói kiểu dân tộc thiểu số xét từ biểu hiện bên ngoài. Tôi thấy anh giống và anh lớn ở cái chung và vì giống với cái chung nên anh mới lớn.
Trước hết, Y Phương là người có quan niệm sống, quan niệm nghệ thuật một cách rõ ràng. Một nhà thơ có tư tưởng, có quan niệm nghệ thuật là biểu hiện của một nhà thơ lớn.
Y Phương có nói: Văn chương là một thứ để chơi, nhưng chơi cho mình thích và người ta thích, không chơi được nữa thì thôi...Có thể có người nghĩ đây là câu nói buông, không thấy hết những chức năng cao cả của văn học. Nhưng cũng cần phải thấy rằng, khi ví với trò chơi là phải thấy hết cả sự tự nguyện, đam mê, không vụ lợi; chơi được cho mình thích và người khác thích thì đã hàm chứa những điều cao cả và tốt đẹp trong đó rồi.
Vả chăng, khi đánh giá một tác giả, không chỉ căn cứ ở chính lời anh ta nói ra, mà phải căn cứ vào chính tác phẩm và sức lan truyền của nó.
Y Phương có một câu thơ như tục ngữ:
Người đồng mình tự đục đá kê cao quê hương
Còn quê hương thì làm nên phong tục
Vì cần phải "kê cao quê hương" nên anh ra trận, làm thơ, làm rẫy, làm cán bộ..., là sống cho sự sống muôn đời bất diệt. Một đặc trưng rõ nét nhất, cơ bản nhất của Y Phương là tình yêu cuộc sống, anh muốn cả con người mình trở thành một vườn bách thảo da thịt cũng bật mầm:
Tôi đi bốn chân
Ngung ngoăng khắp nhà
Nhà liền đất nên tôi như đất
Tôi bốc đất đầy tay
Tôi xoa đất lên người
Cho rõ lấm lem, không rõ hình hài
Da thịt bật mầm muôn bách thảo
Xanh xanh tòa lâu đài
Cho muôn người
Vô gia cư đến ở.
Trong khốc liệt chiến tranh, anh ít viết một cách trực tiếp về các sự kiện, về các khái niệm và phạm trù của chiến tranh; anh chỉ nói về nỗi nhớ của mình, một nỗi nhớ luôn hướng về sự sống:
Hành quân bé cả người không kêu
Nhớ mẹ quá thì ngồi lên đá
Có lúc khóc không cho ai biết
Trốn ra sông vầy nước
Vẽ lên cát hình thù dãy núi quê hương
Vẽ lên cát mái trường phố huyện
Vẽ lên cát nhà sàn thoáng rộng
Cái sự sống ấy đã lấn át tất cả. Từ hình ảnh của chiến tranh gợi về sự sống, đã khắc họa một cách chân thực và sâu sắc tâm hồn người chiến sĩ thời chống Mỹ, cứu nước, tâm hồn lương thiện và nhân bản. Con người ấy, dân tộc ấy quyết bảo vệ sự sống đến cùng và do đó, không kẻ xâm lược nào có thể chiến thắng. Những điều lớn lao ấy có khi chỉ được thể hiện trong những câu thơ giản dị:
Võng giống tay em ôm anh ngủ
Khẩu súng nằm nghiêng huýt gió lay
Y Phương bé con, Y Phương bộ đội, Y Phương sau này đều nhất quán trong cách nhìn, cách nghĩ, cách sống. Bài Mùa hoa viết năm 1984, là một bài thơ ca ngợi sự sống, làm vẻ vang cho thơ ca Việt Nam khi sánh cùng thế giới. Chỉ cần được sống, cần phải sống hết mình với những cái đã có, với hôm nay, chẳng phải là đích thực của hạnh phúc đó sao?
Mùa hoa
Người đàn bà
Mặt đỏ phừng
Ðủ sức vác ông chồng
Chạy phăm phăm lên núi
Mùa hoa
Người đàn ông
Mệt như chiếc áo rũ
Vừa vịn rào đi vừa ngái ngủ.
Ngoài việc có một quan niệm nghệ thuật như trên, Y Phương còn biết chắt lọc và tinh kết trong thơ để đạt đến trình độ giản dị sâu sắc. Anh thành công đặc biệt ở những bài thơ ngắn. Chẳng hạn bài Chiếc ba-lô, viết vào tháng 5-1981, ngày anh ra quân:
Dưới cấp tướng là cấp tá
Dưới cấp tá là cấp úy
Dưới cấp úy là binh nhất, binh nhì
Dưới binh nhì là ... chiếc ba-lô
Chiếc ba-lô bé nhỏ
Chiếc ba-lô lép kẹp
Treo vách nhà
Ðựng những ngày đẹp nhất đi xa.
Như chiếc ba-lô nọ, những câu thơ bé nhỏ của Y Phương thường đựng những điều rất xa, rất đẹp. Không cần thiết phải bàn đến triển vọng của một cây bút mà tôi thấy cần thiết phải khẳng định một hướng đi được thấy từ Y Phương.
NGUYỄN SĨ ĐẠI