Thơ và lời bình

"Giếng chùa" của Phạm Xuân Trường

Kính tặng 27 sư nữ, nguyên là TNXP và bộ đội

Giếng chùa đem tắm vầng trăng
Đồi trinh nữ, giọt long lanh... cạn rồi.
Xuân thì quá lứa hoa rơi.
Nâu sồng run rẩy khép đời chân tu.

Mẹ ơi khuya khoắt lời ru.
Già nua lồng ngực bỏ tù con tim.
Thời gian rụng tóc đi tìm.
Nắng qua đèo, nắng đã chìm vào trưa.

Đến kỳ lòng vẫn đổ mưa.
Chợt nghe tiếng trẻ mà chua xót mình.

Bao nhiêu sẹo ở đầu cành.
Gió ơi còn hát biếc xanh làm gì.
Lòng con rêu phủ bước đi.
Bồ đề rụng gió, xù xì tháng năm.

Quờ tay chạm phải đồi trăng.
Mười tư thì héo, mười rằm chớm khô.
Bao giờ như thể ngày xưa?
Ngây thơ con hát... mười tư trăng tròn.

Ngày 5-7-1997
Phạm Xuân Trường
(Báo Văn nghệ số 40 ngày 4-10-1997)

Lời bình:

Có thể nói khổ thơ đầu, tác giả đã khái quát được nội dung trên bằng những hình ảnh: "Giếng chùa đem tắm vầng trăng", "đồi trinh nữ" quắt queo, không còn sự sống... Từ láy "run rẩy" trong câu thứ tư có thể coi như một dấu chấm than và cũng là dấu chấm hết, khép lại cuộc đời của những người phụ nữ ở chốn "nâu sồng": "Nâu sồng run rẩy khép đời chân tu". Cách sử dụng hình ảnh và từ ngữ ở những khổ thơ tiếp theo làm cho bạn đọc có thể cảm nhận được sự đan xen giữa hoàn cảnh thực tại và quá khứ của nhân vật trữ tình. Hiện tại là "xù xì", "chua xót", là "cạn" là "héo" là "khô"... là "già nua lồng ngực bỏ tù con tim".

Chưa hẳn là như thế, hiện tại còn có lúc lóe lên sự khát khao được làm chức năng của người mẹ, khao khát cuộc sống hạnh phúc gia đình, mỗi khi nghe thấy "lời ru" trong đêm "khuya khoắt" hay tiếng trẻ thơ theo làn gió vô tình lọt qua khe cửa. Điều ấy, dường như lại càng xoáy sâu vào nỗi đau của những nhà sư bất đắc dĩ:

Bao nhiêu sẹo ở đầu cành.
Gió ơi còn hát biếc xanh làm gì.

Cứ mỗi lần trái tim "chua xót" kia bùng lên ngọn lửa khát thèm là mỗi lần những chiếc "sẹo" cuộc đời của họ lại sưng tấy, nhức nhối. Ý và lời của những câu thơ trên cứ gieo vào tâm can người đọc một sự đắng đót, không sao tả xiết. Phải chăng nhà thơ cũng là một cựu chiến binh của thời đạn lửa nên mới có sự đồng cảm, xót thương đến thế. Dù cho tâm trạng bị giằng xé thì nhân vật trữ tình vẫn xác định được chỗ đứng của mình là nơi "bồ đề rụng gió"...

Cách sử dụng từ ngữ và hình ảnh đầy chất chữ tình, Phạm Xuân Trường như muốn đưa bạn đọc đến với đời sống tinh thần của nhân vật trong hoàn cảnh thực tại. Nhưng qua đó độc giả còn có thể liên tưởng đến một không gian của thời quá khứ không mấy thuận lợi của nhân vật trong bài thơ. Đó là những hình ảnh "đồi", "nắng qua đèo", "sẹo trên cành"... (hiểu theo nghĩa đen). Những hình ảnh đó đã vẽ nên một bức tranh núi rừng, nơi đánh Mỹ năm xưa, nơi các chiến sĩ giải phóng hành quân, mắc võng, ngủ hầm, là trạm, đóng chốt... tiêu diệt kẻ thù.

Chỉ một cụm từ "rụng tóc" cũng đủ hiện lên bao nỗi vất vả, gian nan của đội quân tóc dài, không tiếc tuổi xuân, tình nguyện đi vào cuộc kháng chiến hào hùng của dân tộc. Lẽ đương nhiên là họ phải hứng chịu mọi hiểm nguy và nhất là các bệnh do chất độc mầu da cam hoặc bệnh sốt rét rừng gây nên mà biểu hiện của nó là tình trạng "rụng tóc". Họ mang bóng dáng của đoàn quân trọc đầu như hình ảnh anh Bộ đội Cụ Hồ trong thời kỳ đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp mà nhà thơ Quang Dũng đã miêu tả:

... Tây tiến đoàn binh không mọc tóc.
Quân xanh mầu lá dữ oai hùm...

(Tây Tiến)

Quá khứ gian khổ, hào hùng, nhưng đôi khi quá khứ cũng là khát vọng của hiện tại. Nhân vật trữ tình đã có những giây phút sống lại với cái tuổi "trăng tròn" và như được tắm mình trong cái thuở "ngây thơ" tràn đầy hạnh phúc ấy:

"Bao giờ như thể ngày xưa
Ngây thơ con hát... mười tư trăng tròn".

Các cô gái đang ở độ tuổi "cập kê" tràn đầy mộng mơ. Trong đó có sự hoài vọng về tình yêu đôi lứa. Ở đây ta thấy có hai cụm từ phiếm chỉ mang ý nghĩa thời gian, ngày xưa" chỉ thời gian thuộc về quá khứ. Khát vọng được sống những ngày hạnh phúc của tuổi "ngây thơ" đã thuộc về quá khứ là một nghịch lý phũ phàng. Đến đây ta có thể nghĩ tới tâm trạng của Thúy Kiều (trong Truyện Kiều của Nguyễn Du) ở hoàn cảnh phải hy sinh tình yêu để cứu cha và em trai. Nàng đau đớn khi phải trao những kỷ vật cho Thúy Vân:

... Mất người còn chút của tin,
Phiếm đàn với mảnh hương nguyền ngày xưa.
Mai sau dù có bao giờ
Đốt lò hương ấy so tơ phím này...

(Truyện Kiều - Nguyễn Du)

Cái "ngày xưa" của Thúy Kiều là chẳng bao giờ có nữa. Cũng như cái "ngày xưa" của các cô gái trong "Giếng chùa" là không có ngày trở lại. Tuổi xuân của họ đã đi qua, đã chìm, đã hòa nhập vào vận mệnh của dân tộc. Cụm từ "bao giờ" chỉ thời gian trong tương lai. Tương lai của nàng Kiều là "còn mang nặng lời thề", là sự thủy chung, son sắt đối với chàng Kim trong tâm hồn. Còn tương lai cuộc đời các chiến sĩ gái đã được phong tỏa trong phạm vi khát vọng. Thực ra là đã được chuyển đổi thành tương lai của Tổ quốc, của đất nước Việt Nam anh hùng.

Có thể bạn quan tâm