Tháp Chương Sơn và thơ Trần Nhân Tông

Núi Chương Sơn là núi Ngô Xá ở xã Yên Lợi, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Ðịnh. Dấu vết của ngôi tháp thời Lý nay vẫn còn. Tháp được xây dựng từ năm 1108, hoàn thành 1117. Bia chùa Chương Sơn, tạc năm 1670, cho biết: Không lâu sau đó, quân nước ngoài phá hủy các tượng phật bằng đá, chỉ còn tượng thần trên bệ đá ở tầng thứ hai giữa đỉnh núi. Tháp Chương Sơn đã bị phá hủy tan tành. Toàn bộ ngọn tháp cao lớn như thế, trong khi khai quật chỉ thu được 200 di vật, không đến 50 viên gạch nguyên. Quý giá nhất là những viên gạch trên ngọn tháp còn in dòng chữ Hán cho biết, gạch được làm năm 1105.

Chân tháp đo được 19 m mỗi chiều, tính ra tháp Chương Sơn có thể cao tới 95 m. Căn cứ trên loại hình di vật bằng đá, như các bệ, các vòng hào quang hình lá đề, có thể hình dung tháp ít nhất cũng cao năm tầng. Những cây tháp thời Lý - Trần như Sùng Thiện Diên Linh trên núi Ðọi Sơn thuộc xã Ðọi Sơn, huyện Duy Tiên; tháp Chương Sơn trên núi Bảo Ðài và tháp Phổ Minh thành phố Nam Ðịnh, chỉ tháp Phổ Minh còn lại bây giờ.

Cũng theo sử sách thì một loạt sự kiện xảy ra quanh núi Chương Sơn: Vua ngự chơi Chương Sơn năm 1106, ba lần rồng vàng hiện lên ở đây vào những năm 1107, 1114, 1117. Dừng chân thưởng ngoạn, vua lại trên đường tới hành cung Ứng Phong (trên đất ba huyện Nghĩa Hưng, Ý Yên, Vụ Bản, tỉnh Nam Ðịnh ngày nay), xem cày ruộng. Như vậy có thể nói chưa nơi nào được nhà vua quan tâm, chú trọng như vậy. Do đó việc xây chùa tháp, đặc biệt là tháp cao như thế, một mặt để cầu tự, sám hối và phần nào thu phục nhân tâm trong lúc đạo Phật đang thịnh hành.

Tháp Chương Sơn, với quy mô cao lớn, và những đường nét chạm trổ tinh tế, duyên dáng, mềm mại mà rất khỏe khoắn. Những mảng hoa văn trên bệ bục, hoặc di vật sưu tầm được ở chân núi Bảo Ðài, phản ánh tài hoa kiến trúc, điêu khắc của nước ta thế kỷ 12. Ngót 200 năm sau, Trần Nhân Tông (1279- 1293) đã để lại một áng thơ trác tuyệt.

Lên núi Bảo Ðài
Ðất vắng đài thêm cổ
Ngày qua xuân chửa nồng
Gần xa mây núi ngất
Nắng rợp ngõ hoa lồng
Muôn việc nước trôi nước
Trăm năm lòng nhủ lòng
Tựa hiên nâng sáo ngọc
Ðầy ngực ánh trăng trong

          (Ngô Tất Tố dịch thơ)

Vậy là hai vị vua, hai triều đại, Lý Nhân Tông có công cho xây dựng trên núi ngọn tháp lưng trời, ngự về chứng kiến thành quả ấy, náo động đất trời, rồng cất cánh bay lên, còn Trần Nhân Tông vào một ngày vắng vẻ, "tựa hiên nâng sáo ngọc" đề thơ. Ðể ta chiêm nghiệm quy luật, việc đời: Muôn việc nước trôi nước/Trăm năm lòng nhủ lòng.

Thơ ôm cả mây, núi, trăng, hoa; Bảo Ðài vừa sáng tươi, sinh động, vừa thấm được vị thiền hư ảo: Gần xa mây núi ngất/ Nắng rợp ngõ hoa lồng. Có nhà nghiên cứu ca ngợi: "Có thể xem là những câu thơ hay vào bậc nhất của thơ ca trung đại Việt Nam ta".

Vùng đất Bảo Ðài còn làm ta rung động bởi những cái tên - tên làng, tên núi, tên sông. Vùng tiếp giáp phía tây có làng Mai Thanh, Mai Phú, Mai Ðộ, Mai Vị- một chùm hoa mai bao quanh ngọn núi Tiên Sa. Rồi trăng- Nguyệt Bói, Nguyệt Thượng, Nguyệt Trung, Nguyệt Hạ; khác nào trăng nhú, trăng treo, trăng tròn, trăng khuyết... Chân núi Bảo Ðài có làng Ngô Xá, quanh núi Phương Nghi có xóm Son, có làng Thanh Nê- núi thơm, đất đỏ, bùn xanh. Lại kia ngôi mộ viên tướng thời Trịnh - Mạc Trần Bách Niên, bên hòn núi Ngọc. Nghe nói vị tướng công ấy còn ngôi miếu thờ ở làng Thiêm Lộc, cách phần mộ chừng dăm km, về phía tây theo đường chim bay. Rồi sông Thiên Phái bao quanh, nơi đã từng ghi dấu tích, địa danh trận mạc thời Lê - Mạc.

PHẠM NGỌC KHÁNH

Có thể bạn quan tâm