Tập trung thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm phát triển văn hóa

Văn phòng Trung ương Đảng vừa ban hành Thông báo số 129-TB/VPTW ngày 30/7/2026 thông báo ý kiến chỉ đạo của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Phiên họp thứ hai của Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển văn hóa Việt Nam (Ban Chỉ đạo).

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm phát biểu chỉ đạo tại Phiên họp thứ 2 của Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển văn hóa Việt Nam, ngày 13/7/2026. (Ảnh: ĐĂNG KHOA)
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm phát biểu chỉ đạo tại Phiên họp thứ 2 của Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển văn hóa Việt Nam, ngày 13/7/2026. (Ảnh: ĐĂNG KHOA)

Theo Thông báo số 129- TB/VPTW (Thông báo), ngày 13/7/2026, đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm làm việc với Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển văn hóa Việt Nam tại Phiên họp thứ hai của Ban Chỉ đạo. Xem xét báo cáo của Đảng ủy Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch - Cơ quan Thường trực của Ban Chỉ đạo và ý kiến phát biểu tại cuộc làm việc, đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đánh giá cao những kết quả đạt được qua 6 tháng triển khai Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 7/1/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam (Nghị quyết số 80-NQ/TW); nêu rõ một số hạn chế, “điểm nghẽn lớn” cần tập trung khắc phục và 3 định hướng lớn cần tập trung triển khai.

Trong 6 tháng cuối năm 2026, đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chỉ đạo cần tập trung thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm sau:

1. Tiếp tục hoàn thiện thể chế, tạo đột phá nhằm giải phóng sức sáng tạo của toàn xã hội; huy động, phân bổ và sử dụng hiệu quả mọi nguồn lực cho phát triển văn hóa

Giao Đảng ủy Chính phủ chỉ đạo Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành liên quan tập trung rà soát, xây dựng, hoàn thiện đồng bộ hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách về văn hóa; khẩn trương hoàn thiện các văn bản pháp luật, cơ chế, chính sách nền tảng, tạo hành lang pháp lý thuận lợi cho hoạt động sáng tạo, sản xuất, phổ biến và thụ hưởng các giá trị văn hóa, trọng tâm là nghiên cứu xây dựng Luật Phát triển công nghiệp văn hóa, Luật Bản quyền tác giả, Luật Hoạt động nghệ thuật và Luật Văn học.

Hoàn thiện cơ chế quản trị phát triển văn hóa theo hướng hiện đại, lấy dữ liệu, tiêu chuẩn và kết quả thực tiễn làm căn cứ đánh giá, điều hành; xây dựng, ban hành và tổ chức vận hành Bộ chỉ số văn hóa quốc gia, Bộ tiêu chí thống kê về đóng góp của các ngành công nghiệp văn hóa đối với phát triển kinh tế và Bộ chỉ số theo dõi, đánh giá việc thực hiện Nghị quyết số 80-NQ/TW. Đẩy mạnh chuyển đổi số, phát triển hạ tầng văn hóa số; hoàn thiện cơ chế kết nối, chia sẻ và khai thác tài nguyên văn hóa trên môi trường số, tạo nền tảng cho đổi mới sáng tạo và mở rộng không gian phát triển văn hóa.

Rà soát, cập nhật, hoàn thiện các chiến lược, quy hoạch, chương trình phát triển văn hóa, bảo đảm phù hợp với yêu cầu phát triển của giai đoạn mới, trọng tâm là Chiến lược phát triển văn hóa Việt Nam đến năm 2035, tầm nhìn đến năm 2045; bảo đảm sự thống nhất giữa mục tiêu phát triển văn hóa với phát triển kinh tế-xã hội. Chuyển mạnh tư duy quản lý văn hóa sang tư duy kiến tạo phát triển; phát huy vai trò chủ thể sáng tạo của Nhân dân; khuyến khích sự tham gia của doanh nghiệp, tổ chức xã hội và cộng đồng; huy động tối đa các nguồn lực trong và ngoài nhà nước để xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, có sức cạnh tranh và khả năng lan tỏa trong thời kỳ mới.

2. Đẩy mạnh xây dựng chủ quyền văn hóa trên không gian số; nâng cao sức hấp dẫn, khả năng lan tỏa và bảo vệ các giá trị văn hóa dân tộc

Giao Đảng ủy Chính phủ chỉ đạo xây dựng, triển khai Chương trình phát triển không gian văn hóa số quốc gia; hoàn thiện cơ chế, chính sách phát triển các nền tảng, kênh truyền thông và hệ sinh thái nội dung văn hóa số mang bản sắc Việt Nam. Xây dựng cơ chế huy động sự tham gia của Nhà nước, doanh nghiệp, cộng đồng và Nhân dân trong sản xuất, phổ biến các sản phẩm văn hóa có chất lượng, có tính sáng tạo, sức hấp dẫn và khả năng cạnh tranh trên môi trường số.

Phát huy vai trò của điện ảnh, văn học, âm nhạc, nghệ thuật biểu diễn, mỹ thuật, thiết kế, xuất bản, trò chơi điện tử, hoạt hình và các sản phẩm nội dung số trong giới thiệu, quảng bá văn hóa Việt Nam với thế giới. Có cơ chế phát triển, đặt hàng, đầu tư có trọng điểm đối với các tác phẩm, sản phẩm văn hóa có chất lượng nghệ thuật cao, giá trị giáo dục, khả năng tiếp cận đông đảo công chúng, sức cạnh tranh và khả năng lan tỏa quốc tế.

Giao Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan định hướng công tác tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức xã hội về giá trị văn hóa Việt Nam; đổi mới phương thức truyền thông, nhất là trên các nền tảng số; đưa hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam đến gần hơn với Nhân dân, nhất là thế hệ trẻ.

Ban Chỉ đạo Trung ương cần định kỳ kiểm tra, đánh giá kết quả thực hiện; không chỉ đánh giá bằng số lượng sản phẩm văn hóa được đưa lên môi trường số, mà phải đo lường bằng mức độ nhận diện, sức hấp dẫn, khả năng lan tỏa của các giá trị văn hóa Việt Nam và sự chuyển biến trong nhận thức, tình cảm, hành vi văn hóa của người dân, nhất là thế hệ trẻ.

3. Thúc đẩy chuyển hóa di sản và vốn văn hóa thành tri thức, tài sản trí tuệ, sản phẩm sáng tạo và nguồn lực cho giáo dục, khoa học, công nghệ, công nghiệp văn hóa và đổi mới sáng tạo

Thực hiện mục tiêu đến năm 2026, số hóa 100% di sản văn hóa được xếp hạng cấp quốc gia, cấp quốc gia đặc biệt, bảo đảm thực chất, không chạy theo tỷ lệ, không số hóa hình thức. Dữ liệu di sản phải được định danh, xác định rõ nguồn gốc, đáp ứng tiêu chuẩn kỹ thuật, có khả năng tìm kiếm, kết nối, chia sẻ, tái sử dụng, phục vụ hiệu quả công tác quản lý, giáo dục, nghiên cứu, phát triển du lịch, công nghiệp văn hóa và trí tuệ nhân tạo. Trước mắt, ưu tiên xây dựng các nhóm dữ liệu nền tảng về tiếng Việt, lịch sử, di tích, di sản văn hóa phi vật thể, hiện vật bảo tàng, thư viện, văn học, nghệ thuật truyền thống và di sản tư liệu.

Giao Đảng ủy Chính phủ chỉ đạo Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch chủ trì, phối hợp với Bộ Khoa học và Công nghệ và các cơ quan liên quan tổ chức thực hiện bảo đảm việc số hóa gắn với hình thành tri thức số và tài sản trí tuệ quốc gia; mỗi bộ dữ liệu, mỗi di sản được số hóa phải được quản lý, khai thác như một loại tài sản có khả năng tạo ra giá trị khoa học, văn hóa và kinh tế.

Khẩn trương hoàn thiện cơ chế xác lập, bảo hộ, quản lý và khai thác quyền sở hữu trí tuệ đối với tài sản văn hóa được số hóa; xây dựng cơ chế chia sẻ lợi ích hài hòa giữa Nhà nước, cộng đồng, nghệ nhân, tác giả, nhà nghiên cứu và doanh nghiệp trong quá trình khai thác các giá trị văn hóa. Khuyến khích chuyển hóa chất liệu văn hóa Việt Nam thành các sản phẩm sáng tạo trong lĩnh vực điện ảnh, âm nhạc, xuất bản, mỹ thuật, thiết kế, trò chơi điện tử, du lịch, giáo dục, truyền thông và các ngành công nghiệp văn hóa khác, qua đó phát huy, lan tỏa giá trị di sản và tạo ra giá trị mới trong đời sống đương đại.

Thường xuyên kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện; không chỉ đánh giá bằng tỷ lệ số hóa, mà phải đánh giá bằng khả năng tạo lập tri thức số, hình thành tài sản trí tuệ, phát triển sản phẩm sáng tạo và đóng góp thực chất của tài nguyên văn hóa đối với giáo dục, khoa học, công nghệ, công nghiệp văn hóa và tăng trưởng kinh tế.

4. Phát triển công nghiệp văn hóa thành một động lực tăng trưởng mới, chuyển sức mạnh văn hóa thành năng lực cạnh tranh quốc gia

Phiên họp chuyên đề của Ban Chỉ đạo về phát huy vai trò của văn hóa đối với mục tiêu tăng trưởng “2 con số” phải xác định rõ các lĩnh vực có khả năng tạo tăng trưởng, địa phương có điều kiện hình thành trung tâm dẫn dắt, doanh nghiệp có năng lực triển khai và các dự án có khả năng tạo ra sản phẩm, doanh thu, việc làm, tài sản trí tuệ và mở rộng thị trường.

Đảng ủy Chính phủ chỉ đạo khẩn trương hoàn thiện, đưa vào vận hành hệ thống thống kê quốc gia về công nghiệp văn hóa; trong năm 2026, hình thành số liệu gốc, phương pháp tính thống nhất và cơ chế công bố định kỳ; đo lường được đóng góp của từng ngành, từng địa phương, doanh thu trong nước và xuất khẩu, số doanh nghiệp, việc làm, thu nhập, giá trị bản quyền, tài sản trí tuệ và mức độ tham gia của doanh nghiệp Việt Nam trong chuỗi giá trị.

Các tỉnh ủy, thành ủy ở các địa phương trọng điểm về phát triển công nghiệp văn hóa lãnh đạo, chỉ đạo lựa chọn một số lĩnh vực có lợi thế và không quá 3 dự án quan trọng, mang tính dẫn dắt, lan tỏa để triển khai thực hiện. Mỗi dự án phải xác định rõ sản phẩm, doanh nghiệp thực hiện, nguồn vốn, thị trường, tài sản trí tuệ và mức đóng góp dự kiến vào GRDP, tạo việc làm, xuất khẩu hoặc thu hút du lịch. Đến tháng 10/2026, các thành phố (Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Huế, Đà Nẵng, Cần Thơ, Đồng Nai) phải xác định quỹ đất dành cho các trung tâm công nghiệp văn hóa, trung tâm đổi mới sáng tạo văn hóa và sáng tạo nội dung số phù hợp với tiềm năng, thế mạnh, năng lực cạnh tranh, giá trị riêng biệt và khả năng liên kết vùng.

Có thể bạn quan tâm