Bài cuối: Từ “Dân là gốc” đến những quyết sách vì hạnh phúc của nhân dân

Bài cuối: Từ “Dân là gốc” đến những quyết sách vì hạnh phúc của nhân dân

Từ khi ra đời và trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn nhất quán quan điểm “Dân là gốc”. Trong giai đoạn phát triển mới, khi hạnh phúc và sự hài lòng của nhân dân ngày càng được đặt ở vị trí trung tâm, yêu cầu không chỉ là có những chủ trương đúng, mà còn phải làm sao để mỗi quyết sách thực sự bắt đầu từ cuộc sống, có sự tham gia của nhân dân và cuối cùng được kiểm chứng bằng chính những đổi thay trong cuộc sống của nhân dân.

12.jpg

Khi đất nước bước vào một giai đoạn phát triển mới, đời sống được nâng lên, nhu cầu và mong muốn của người dân cũng ngày càng đa dạng. Một quyết sách vì nhân dân vì thế không chỉ giải quyết những vấn đề trước mắt, mà còn phải mở rộng cơ hội phát triển, bảo đảm tốt hơn các quyền và lợi ích chính đáng, để thành quả của phát triển đến được với các tầng lớp nhân dân.

Điều đó cũng có nghĩa, hạnh phúc của nhân dân không thể chỉ được nhìn như kết quả ở cuối một quá trình. Những vấn đề nảy sinh từ cuộc sống phải trở thành một trong những căn cứ để hình thành chủ trương; những nhu cầu chính đáng của người dân phải được tính đến trong quá trình lựa chọn chính sách; và tác động đối với đời sống phải được xem xét khi đánh giá hiệu quả thực hiện.

binh-dan-hoc-vu-so-9057.jpg
Bước vào giai đoạn phát triển mới với nền tảng khoa học công nghệ vượt trội, mỗi người dân cần là một công dân số để xây dựng xã hội số thông minh. Hỗ trợ từng người dân tiếp cận chuyển đổi số nhất là những người lớn tuổi góp phần để mọi người chủ động tham gia vào quá trình phát triển, để "không ai bị bỏ lại phía sau".

Đó cũng là mạch tư tưởng nhất quán trong quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về nhân dân và mục tiêu của cách mạng. Trao đổi với chúng tôi, Tiến sĩ Vũ Trung Kiên, Phó Trưởng khoa Xây dựng Đảng, Học viện Chính trị khu vực II nhắc lại lời Người trong “Thư gửi Ủy ban nhân dân các kỳ, tỉnh, huyện và làng”: “Nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”.

Theo Tiến sĩ Vũ Trung Kiên, người dân nhìn Đảng trước hết qua việc các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước có đáp ứng những nhu cầu, lợi ích chính đáng của họ hay không; thành quả phát triển được chuyển hóa vào đời sống như thế nào. Đây cũng là một trong những biểu hiện cụ thể của mối quan hệ gắn bó giữa Đảng với nhân dân: chủ trương phải xuất phát từ cuộc sống và cuối cùng phải trở lại phục vụ cuộc sống.

Từ cách tiếp cận đó, theo Tiến sĩ Vũ Trung Kiên, để hạnh phúc của nhân dân trở thành thực chất, vấn đề phải được đặt ra ngay từ khi hình thành chủ trương và thể chế hóa thành chính sách. Trong một xã hội với nhiều nhóm lợi ích, điều kiện sống và nhu cầu khác nhau, không phải quyết định nào cũng có thể đồng thời đáp ứng tất cả mong muốn. Điều quan trọng là lợi ích chung phải được đặt lên trên hết, đồng thời quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của những nhóm chịu tác động phải được xem xét đầy đủ.

tien-si-vu-trung-kien-chu-thich-chuan-731.jpg

Khoảng cách từ một chủ trương đúng đến kết quả người dân nhận được còn phụ thuộc rất lớn vào quá trình thực hiện. Theo Tiến sĩ Vũ Trung Kiên, cùng với chất lượng chính sách phải là đội ngũ cán bộ tận tâm, có trách nhiệm; cơ chế kiểm tra, giám sát đủ hiệu lực và sự tham gia phản biện của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị-xã hội, báo chí và nhân dân. Bởi chính trong quá trình thực thi, những tác động chưa được dự liệu hết mới bộc lộ và đòi hỏi phải được nhận diện, xử lý.

Từ góc nhìn của người trực tiếp điều hành tại cơ sở, đồng chí Mai Đàm Thanh Vân, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Quyết Thắng, thành phố Hải Phòng cho rằng, lấy người dân làm trung tâm phải được thể hiện xuyên suốt từ quá trình lấy ý kiến, tổ chức thực hiện đến đánh giá kết quả. Những phản hồi nảy sinh trong đời sống, theo đồng chí, là căn cứ quan trọng để chính quyền nhìn lại cách làm, nhận diện những điểm chưa phù hợp và kịp thời điều chỉnh.

Ở cơ sở, những phản ánh của người dân, vướng mắc trong quá trình thực hiện hay tình huống phát sinh chính là những thông tin thực tế để nhìn lại chính sách. Một bộ máy gần dân không chỉ giải quyết tốt công việc, mà còn phải biết lắng nghe, nhận diện những bất cập để kịp thời điều chỉnh.

Nhìn từ thực tế đó, nhân dân không chỉ là người thụ hưởng thành quả phát triển. Cuộc sống, nhu cầu và tiếng nói của người dân còn phải được phản ánh trong quá trình hình thành và thực hiện những quyết sách liên quan trực tiếp đến mình.

tit-2-bai-5-chuan.jpg
nha-kenh-rach-7918.png
Thành phố Hồ Chí Minh đang nỗ lực và quyết tâm di dời nhà ở trên và ven kênh rạch. Diện tích đất sau di dời được ưu tiên dành cho công viên cây xanh, hành lang bảo vệ kênh rạch. (Ảnh: THẠC HIẾU)

Một chính sách sát với cuộc sống trước hết phải được xây dựng trên sự hiểu biết đầy đủ về cuộc sống. Điều đó đòi hỏi quá trình hoạch định không thể chỉ dựa vào dữ liệu, báo cáo hay góc nhìn của cơ quan quản lý, mà cần có những kênh đủ thực chất để tiếng nói của người chịu tác động được lắng nghe.

Là người nhiều năm gắn bó với cơ sở, tham gia công tác Mặt trận và hiện là Thành viên Hội đồng Tư vấn dân chủ-pháp luật của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Thành phố Hồ Chí Minh, đồng chí Hoàng Thị Lợi cho rằng, cơ quan ban hành chính sách phải xuất phát từ những vấn đề thực tiễn của người dân. Một nghị quyết muốn nhanh chóng đi vào cuộc sống phải đúng, trúng và sát thực tế; trước khi ban hành cần tăng cường khảo sát, đối thoại, lấy ý kiến thực chất của người dân, doanh nghiệp, chuyên gia và đặc biệt là những nhóm trực tiếp chịu tác động.

Theo đồng chí Hoàng Thị Lợi, một câu hỏi tưởng đơn giản nhưng cần được trả lời rõ trước mỗi quyết sách là: “Người dân được lợi gì khi thực hiện chính sách đó?”. Một chủ trương có thể rất đúng nhưng khi xuống cơ sở lại thiếu nguồn lực, thiếu hướng dẫn hoặc không xác định rõ trách nhiệm thì vẫn có thể chậm triển khai, triển khai không hiệu quả, thậm chí làm suy giảm niềm tin trong nhân dân.

Sự tham gia ấy cũng không dừng lại sau khi văn bản được ban hành. Từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh, đồng chí Hoàng Thị Lợi cho rằng, cần thay đổi cách nghĩ từ “Nhà nước làm cho dân” sang “Nhà nước và nhân dân cùng làm, cùng giám sát và cùng thụ hưởng thành quả”. Người dân không chỉ là đối tượng thụ hưởng mà phải trở thành chủ thể tham gia quá trình quản trị và phát triển thông qua đối thoại trực tiếp, các kênh phản ánh, kiến nghị, nền tảng số, tham vấn cộng đồng cũng như hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức ở cơ sở.

Quyền tham gia cũng đi cùng trách nhiệm. Người dân cần chủ động tìm hiểu chủ trương, góp ý, giám sát việc thực hiện, phản ánh những vấn đề nảy sinh bằng các kênh chính thức và cùng chính quyền chia sẻ trách nhiệm đối với những công việc chung của cộng đồng.

co-loi-chuan-nhat-2076.jpg

Tiến sĩ Lê Bá Chí Nhân, chuyên gia chính sách công nhìn vấn đề ở phạm vi rộng hơn khi cho rằng cơ quan ban hành nghị quyết phải chịu trách nhiệm đối với toàn bộ “vòng đời” của quyết sách, chứ không dừng lại ở việc nghị quyết được thông qua đúng quy trình.

Theo Tiến sĩ Nhân, ngay từ đầu phải đánh giá đúng thực tiễn và đầy đủ tác động đối với người dân, doanh nghiệp, các nhóm chịu ảnh hưởng. Khi tổ chức thực hiện phải xác định rõ ai quyết định, ai thực hiện, ai giám sát và ai chịu trách nhiệm nếu mục tiêu không đạt; phân cấp, phân quyền phải gắn với kiểm tra, giám sát và trách nhiệm giải trình. Một quyết sách cũng cần mục tiêu, thời hạn, nguồn lực và tiêu chí đo lường cụ thể.

Đáng chú ý, Tiến sĩ Lê Bá Chí Nhân cho rằng, nhân dân cần được tham gia thực chất trong toàn bộ “vòng đời” ấy, từ xây dựng, góp ý đến thực hiện, giám sát và đánh giá. Những phản hồi từ cơ sở không đơn thuần là kiến nghị sau khi chính sách đã ban hành mà còn là nguồn thông tin giúp Nhà nước nhận diện sớm điểm nghẽn, kiểm tra lại tác động và tiếp tục hoàn thiện chính sách.

Và chính khâu thực thi quyết định một chủ trương có thực sự tạo ra giá trị hay không. Chủ trương có thể đúng, nhưng nếu triển khai chậm, nguồn lực không bảo đảm hoặc trách nhiệm không rõ thì kết quả cuối cùng vẫn bị ảnh hưởng. Vì thế, theo Tiến sĩ Nhân, cần “chuyển từ tư duy ‘làm đúng quy trình" sang "làm ra kết quả".

ndo_br_cv-ltt.jpg
Hạnh phúc của nhân dân là mục tiêu nhất quán của Đảng ta. Ở mỗi giai đoạn phát triển, nội hàm của nó được bổ sung, hoàn thiện phù hợp với điều kiện thực tiễn song mục tiêu chung vẫn là bảo đảm cho cuộc sống của người dân ngày càng tốt đẹp hơn, hạnh phúc hơn.

Ở đây, chất lượng tham gia của nhân dân không nằm ở việc mở được bao nhiêu cuộc lấy ý kiến. Quan trọng hơn là ý kiến được tiếp nhận ra sao, vấn đề người dân phản ánh có được xử lý hay không, những nội dung không thể tiếp thu có được giải thích đầy đủ và những bất cập đã được nhận diện có thực sự dẫn tới điều chỉnh trong thực tế.

Bởi dân chủ chỉ thật sự có ý nghĩa khi quyền được biết, được bàn, được làm, được kiểm tra, được giám sát và thụ hưởng gắn với những cơ chế cụ thể để tiếng nói từ cuộc sống có thể tác động trở lại quá trình quản trị.

tit-3-bai-5-chuan.jpg

Đến cuối cùng, giá trị của một chính sách vẫn phải được nhìn từ những gì nó tạo ra cho cuộc sống. Một cơ quan có thể hoàn thành đầy đủ nhiệm vụ được giao, một chương trình có thể giải ngân đúng tiến độ, một thủ tục có thể được số hóa toàn trình. Những kết quả đó cần thiết, nhưng chưa phản ánh đầy đủ chất lượng của một quyết sách nếu người dân vẫn phải đi lại nhiều lần, quyền lợi vẫn khó tiếp cận hoặc những thay đổi trong đời sống chưa tương xứng với nguồn lực đã bỏ ra.

Ngày 3/9, trong bài báo cáo chuyên đề về những nội dung trọng tâm, cốt lõi của nghị quyết số 25-NQ/TW ngày 22/8/2026 của Bộ Chính trị về chiến lược công tác tư tưởng trong bối cảnh mới, đồng chí Trịnh Văn Quyết, Ủy viên Bộ Chính trị, Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương đã nhấn mạnh: Nghị quyết chỉ thực sự có giá trị khi biến thành hành động. Kết quả của nghị quyết này không đo bằng số hội nghị đã tổ chức hay số văn bản đã ban hành mà đo bằng ba điều rất cụ thể: người dân có được nghe thông tin đúng, sớm và đủ hay không; những bức xúc ở cơ sở có được phát hiện và giải quyết ngay từ nơi phát sinh hay không và niềm tin của nhân dân với Đảng, Nhà nước, chế độ có dày lên từng năm hay không. Đây không chỉ riêng là yêu cầu đặt ra đối với riêng Nghị quyết này mà có lẽ là điểm chung đối với mọi quyết sách của Đảng và Nhà nước ta.

chu-thich-chuan-tien-si-nhan-5049.jpg

Từ thực tế Thành phố Hồ Chí Minh, đồng chí Hoàng Thị Lợi cũng có suy nghĩ như thế. Bà cho rằng đánh giá một nghị quyết không nên chỉ dựa vào số lượng hội nghị đã tổ chức, văn bản đã ban hành hay tỷ lệ nhiệm vụ được hoàn thành, mà phải nhìn vào những thay đổi cụ thể trong đời sống người dân.

Với cải cách hành chính, điều cần hướng tới không phải có thêm một hệ thống phần mềm, mà là người dân ít phải đi lại hơn, hồ sơ được xử lý nhanh hơn, minh bạch hơn và chi phí xã hội giảm xuống. Với chuyển đổi số, kết quả cũng không thể chỉ tính bằng số lượng hồ sơ được số hóa, mà phải thể hiện ở việc người dân sử dụng dịch vụ công thuận tiện hơn, dễ tiếp cận hơn và không phải nhiều lần cung cấp những thông tin Nhà nước đã có.

Cách nhìn ấy đòi hỏi thước đo quản trị phải đi xa hơn những chỉ số phản ánh công việc của bộ máy. Tăng trưởng kinh tế phải được nhìn cùng chất lượng sống; đầu tư công phải mở rộng thêm cơ hội phát triển; chuyển đổi số phải tạo thuận lợi thực sự; việc sắp xếp, tinh gọn bộ máy cuối cùng phải thể hiện ở trách nhiệm rõ hơn, quy trình thông suốt hơn và chất lượng phục vụ tốt hơn.

ndo_br_dc-loc-2127.jpg
Nụ cười của người dân là thước đo hạnh phúc, là thành công đối với mỗi quyết sách.

Thực tiễn cũng không đứng yên sau thời điểm một quyết sách được ban hành. Những vấn đề chưa được dự liệu có thể xuất hiện, điều kiện phát triển thay đổi, nhu cầu của người dân cũng ngày một cao hơn. Khả năng lắng nghe phản hồi, nhận diện những khoảng trống và kịp thời sửa đổi vì thế là một phần tự nhiên của quá trình hoàn thiện chính sách.

Đó cũng là lý do gần dân, sát dân không thể chỉ được hiểu như một yêu cầu về phong cách công tác. Đối với người cán bộ, gần dân là để hiểu thực tiễn đang diễn ra thế nào; nghe dân là để biết chính sách đang tác động ra sao; và theo đến cùng những vấn đề người dân phản ánh chính là một phần trách nhiệm đối với kết quả của quyết sách.

Phát biểu chỉ đạo tại Đại hội đại biểu toàn quốc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ XI ngày 12/5/2026, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã đặt vấn đề rất thẳng thắn: “Mặt trận không thể mạnh nếu xa dân; không thể đổi mới nếu chỉ là lời văn trong nghị quyết; không thể đại diện cho nhân dân nếu không nghe được tiếng nói thật của nhân dân và nói dân không hiểu; không thể giám sát, phản biện có chất lượng nếu thiếu bản lĩnh, thiếu dữ liệu, thiếu chuyên gia và thiếu cơ chế theo đến cùng các kiến nghị chính đáng”.

Từ yêu cầu phải nghe được “tiếng nói thật của nhân dân”, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đặt ra một yêu cầu rộng hơn đối với hoạt động của hệ thống chính trị: quán triệt sâu sắc quan điểm “Dân là gốc”, xác định nhân dân là chủ thể, là trung tâm của công cuộc đổi mới, phát triển. Mọi chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước phải xuất phát từ nhu cầu, nguyện vọng, quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân; hướng tới nâng cao đời sống vật chất, tinh thần và hạnh phúc của nhân dân; thực hiện thực chất phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”.

ndo_br_20210316.jpg
Học sinh Thành phố Hồ Chí Minh trải nghiệm phương thức giáo dục STEM/STEAM tại Trung tâm Giáo dục STEAMZone, Khu Công viên phần mềm Quang Trung.

Đồng chí cũng yêu cầu cán bộ Mặt trận “không thể chỉ làm việc qua báo cáo”; phải đi đến nơi, nghe đến cùng, kiến nghị đúng chỗ và theo đến cùng kết quả. Cấp ủy, chính quyền phải coi giám sát, phản biện, kiến nghị của Mặt trận là một kênh quan trọng để hoàn thiện lãnh đạo, quản lý, điều hành và có trách nhiệm tiếp thu, giải trình, phản hồi rõ ràng.

Những yêu cầu ấy đặt nhân dân ở vị trí xuyên suốt trong quá trình hình thành và thực hiện quyết sách: từ nhận diện những vấn đề của cuộc sống, tham gia góp ý, giám sát, đến thụ hưởng thành quả và phản hồi những vấn đề nảy sinh trong thực tiễn. Đó cũng là một đòi hỏi đối với bộ máy: không chỉ ban hành đúng chính sách, mà phải theo đến cùng kết quả của chính sách.

Một chủ trương đúng là điều kiện đầu tiên. Nhưng để chủ trương ấy tạo ra giá trị trong cuộc sống còn cần một quá trình thực thi có trách nhiệm, khả năng lắng nghe và điều chỉnh trước những vấn đề thực tiễn đặt ra. Khoảng cách giữa quyết sách và cuộc sống được rút ngắn cũng chính từ những điều tưởng như rất cụ thể ấy.

Sau cùng, giá trị của mỗi quyết sách không chỉ được đo bằng những mục tiêu đã đặt ra hay những công việc đã hoàn thành, mà bằng những chuyển biến thực sự trong đời sống nhân dân. Khi thành quả phát triển được người dân cảm nhận và thụ hưởng ngày một rõ hơn, hạnh phúc của nhân dân cũng trở thành thước đo cụ thể nhất cho chất lượng của mỗi quyết sách.

Có thể bạn quan tâm