Tấm gương vượt khó của một phụ nữ bất hạnh

Chị Nguyễn Thị Dung sinh năm 1960 tại Nghệ An. Những năm 90, hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn, vợ chồng chị kéo cả nhà đi Quảng Ninh làm ăn. Rồi, một lần có người rủ chị sang Trung Quốc làm thuê, hứa hẹn kiếm được nhiều tiền. Cả tin, chị đi ngay. Nhưng, sau khi vào đất Trung Quốc, chị mới biết bị lừa và bị bán cho một người đàn ông nghèo sống bằng nghề bốc vác thuê. Ông ta không biết  tiếng Việt, chỉ nói được mỗi câu: “Sang đây không về được Việt Nam đâu!”. Chị Dung rất buồn nhớ chồng con và chỉ nghĩ cách trốn về. Sau đó, chị quen được một phụ nữ Việt Nam buôn bán hoa quả ở Trung Quốc, được chị này cho 200 nghìn đồng và giúp trốn về nước.

Sau một năm “làm dâu “ bất đắc dĩ ở xứ lạ, chị may mắn về quê tìm lại được chồng, con và được người chồng thông cảm không hắt hủi. Nhưng, họ không thể sống được ở quê, bởi họ hàng khinh ghét, làng xóm chê cười, cho chị là người không đứng đắn. Thế là vợ chồng, con đành kéo nhau lên xã Hợp Thành, huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn để sống bằng nghề làm thuê, làm mướn. Họ sinh thêm một đứa con, cho nên cuộc sống gia đình càng khốn khó.

Hằng ngày, chị và đứa con lớn phải đi làm “cửu vạn” (bốc vác, chở hàng thuê), cả đi lẫn về khoảng 40 km, mà chỉ kiếm được khoảng 30 nghìn đồng. Trong cảnh gia đình khốn khó, chồng chị sức khoẻ yếu, lại thêm buồn chán, hay uống rượu. Dân địa phương không thông cảm với quá khứ, hoàn cảnh của chị, nên dè bỉu, khinh bỉ.

Không có hộ khẩu, gia đình chị không được cộng đồng đối xử bình đẳng như những người dân địa phương khác, cơ hội tìm việc làm, phát triển kinh tế càng khó khăn hơn. Hàng trăm nỗi khốn khó đè nặng lên vai chị Dung-người phụ nữ nhỏ bé, bất hạnh. Nhiều lúc  tưởng chừng không vượt qua nổi, chị đã khóc trong tuyệt vọng và chán nản. Nhưng, thương chồng, thương con, chị lại cắn răng chịu mọi tủi cực, chèo chống gánh nặng gia đình; động viên chồng con vượt qua những tháng ngày gian nan. Và, chính từ trong khổ cực, chị Dung càng quyết tâm phấn đấu để bằng chị, bằng em; để mọi người không còn khinh thường chị.

Năm 1997, Viện nghiên cứu Thanh niên phối hợp Trung tâm nghiên cứu giới và phát triển (Đại học quốc gia Hà Nội), thực hiện dự án nghiên cứu về nạn buôn bán phụ nữ ở Lạng Sơn. Chị Dung được cán bộ dự án quan tâm, phỏng vấn về câu chuyện của chị. Dự án đã động viên chị và 11 phụ nữ khác có hoàn cảnh tương tự ở địa phương lập nhóm “phụ nữ trở về” (còn gọi là “nhóm ba T”, với khẩu hiệu: tự nguyện, tự lực, tự tin), để chị em cùng sinh hoạt, động viên, chia sẽ khó khăn và giúp nhau làm kinh tế. Các chị được cấp đất và dược dự án cho vay mỗi người một triệu đồng. Có tiền vay của dự án, chị mua hai con lợn giống to, mỗi con 30 kg. Từ khi có lợn, chị động viên chồng và các con cùng nhau kiếm rau, cua cá nuôi lợn. Cả nhà cùng săn sóc, nên đôi lợn rất mau lớn. Bán lứa lợn đầu, chị lại mua tiếp đàn lợn mới lứa sau nhiều hơn lứa trước…

Cứ thế, chẳng bao lâu nhà chị đã trở nên khấm khá. Tiền lãi từ chăn nuôi lợn, chị để lại một phần phát triển sản xuất, một phần để nuôi con ăn học, cải thiện điều kiện sống. Từ chỗ làm không đủ ăn, chị đã sửa được nhà, mua được ti-vi, xe đạp, quạt điện…Chồng chị từ khi có việc làm, cũng phấn khởi hơn và chị đã khuyên anh bỏ được rượu, gia đình chị trở nên đầm ấm, hạnh phúc. Và điều quan trọng hơn, chị đã khẳng định được phẩm chất tốt đẹp của mình và chị không còn bị cộng đồng xem thường, xa lánh...

Không chỉ biết tự cứu mình, Nguyễn Thị Dung còn luôn quan tâm chia sẻ, giúp đỡ các thành viên khác trong nhóm. Chị đã trở thành tấm gương về tinh thần vượt khó vươn lên trong chị em “phụ nữ trở về” ở địa phương; được chị em tín nhiệm bầu làm trưởng nhóm.

Dưới sự dẫn dắt của chị, những năm qua, nhóm luôn duy trì  sinh hoạt với các nội dung sôi nổi, bổ ích, thiết thực. Hằng tháng, các chị đều họp một lần để sinh hoạt văn nghệ, chia sẻ, giúp đỡ nhau những khó khăn về vật chất, tinh thần…

Mỗi khi tham dự sinh hoạt nhóm hay khi đón khách đến thăm, các chị đều bảo nhau trang điểm, mặc những bộ quần áo đẹp nhất, để chứng tỏ với mọi  người rằng: cuộc sống của “phụ nữ ba T” đã khá giả; “phụ nữ ba T” đã khẳng định được mình. Chị Dung đã trở thành người bạn, người chị thân thiết của cả nhóm. Ai có khó khăn, hoạn nạn, chị đều tìm mọi cách giúp đỡ, an ủi, động viên.

Trong nhóm có chị Nguyễn Thị Nhã, trước lúc bị lừa bán sang Trung Quốc đã có chồng và ba con. Khi Nhã trốn được về Việt Nam, chồng chị đang chuẩn bị lấy vợ khác. Anh ta còn báo công an đến bắt chị, vì nghi ngờ Nhã là gián điệp. Chị Dung cùng các chị em trong nhóm đã kết hợp chính quyền địa phương đến giúp gia đình chị Nhã hoà giải; vận động để người chồng hiểu, thông cảm với nỗi khổ của vợ và huỷ bỏ hôn ước với người vợ sắp cưới. Nhờ thế, những “sóng gió” trong gia đình chị Nhã dần lắng xuống. Họ lại về đoàn tụ, hạnh phúc với nhau.

Nhóm “phụ nữ trở về” do chị Dung phụ trách còn tích cực tuyên truyền , vận động để các chị em khác không mắc lừa bọn buôn người, không rơi vào hoàn cảnh éo le như các chị đã trải qua. Từ chỗ là những phụ nữ bất hạnh, nghèo khó, luôn bị hắt hủi và đầy mặc cảm, qua sinh hoạt tại nhóm “phụ nữ trở về”, tất cả các thành viên trong nhóm đều có cuộc sống khá giả. Họ đã tự tin, năng động, yêu đời hơn và trở thành những tuyên truyền viên xuất sắc giúp chính quyền địa phương tuyên truyền về tác hại của nạn buôn bán phụ nữ. Nhiều người trong số họ đã tìm lại được hạnh phúc lứa đôi.

Từ thành công của dự án này, năm 2005, một dự án khác của LHQ giúp đỡ các nạn nhân của nạn buôn bán phụ nữ cũng sẽ được triển khai ở Việt Nam, theo mô hình tương tự…

Nói về những việc mình đã và đang làm, chị Dung tâm sự giản dị: “Mình làm tất cả chỉ vì mong những chị em cùng cảnh ngộ vơi bớt nỗi đau, nỗi tủi cực như mình đã phải chịu đựng trước đây”.

Có thể bạn quan tâm