Tác động nhiều chiều của chính sách sở hữu trí tuệ mới

Ngày 10/12/2025, Quốc hội khóa XV, Kỳ họp thứ 10 đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ (Luật Sở hữu trí tuệ) số 131/2025/QH15 và có hiệu lực thi hành kể từ ngày hôm nay (1/4/2026).

Hoạt động xử lý đơn đăng ký sở hữu công nghiệp tại Cục Sở hữu trí tuệ.
Hoạt động xử lý đơn đăng ký sở hữu công nghiệp tại Cục Sở hữu trí tuệ.

Những nội dung sửa đổi, bổ sung chủ yếu

Luật số 131/2025/QH15 tiếp tục thể chế hóa đường lối, chính sách đề ra tại các văn bản gần đây của Đảng, Nhà nước bao gồm Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội 10 năm 2021-2030; Nghị quyết số 57-NQ/TW; Nghị quyết số 59-NQ/TW; Nghị quyết số 66-NQ/TW; Nghị quyết số 68-NQ/TW...

Bên cạnh đó, việc sửa đổi, bổ sung Luật Sở hữu trí tuệ để bảo đảm tính thống nhất với một loạt các văn bản quy phạm pháp luật đã được ban hành trong thời gian gần đây, nhất là Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, đồng thời khắc phục một số tồn tại, hạn chế trong thực tiễn cũng như kịp thời xử lý các xu hướng mới về sở hữu trí tuệ trên thế giới, bảo đảm tuân thủ hoàn toàn các cam kết quốc tế trong bối cảnh thực tiễn thương mại thế giới thay đổi (sự bùng nổ của thương mại điện tử), xử lý một số vấn đề đặt ra trong tình hình mới.

img-0115.jpg
Quốc hội biểu quyết thông qua Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ.

Một trong những nội dung mới trong Luật Sở hữu trí tuệ là cải cách thủ tục hành chính và chuyển đổi số toàn diện hoạt động sở hữu trí tuệ. Quán triệt tinh thần của Nghị quyết 57-NQ/TW, Nghị quyết số 68-NQ/TW, Luật đã rút ngắn đáng kể thời gian xử lý đơn sở hữu công nghiệp, đơn giản hóa thủ tục xác lập, đăng ký quyền, đồng thời quy định một số biện pháp để bảo đảm thực hiện các yêu cầu mới về thời hạn này, cụ thể:

Thời gian xử lý đơn sở hữu công nghiệp ở mỗi khâu đều giảm, đáng chú ý nhất là thời hạn thẩm định nội dung đơn sáng chế đã giảm từ 18 tháng xuống còn 12 tháng, đơn nhãn hiệu giảm từ 9 tháng xuống 5 tháng, đơn kiểu dáng công nghiệp giảm từ 7 tháng xuống 5 tháng, thời gian công bố đơn giảm từ 2 tháng xuống còn 1 tháng,...

Đặc biệt, Luật đã bổ sung quy định về cơ chế thẩm định nội dung nhanh đơn đăng ký sáng chế, nhãn hiệu (thẩm định nội dung trong thời hạn 0 tháng khi đáp ứng điều kiện do Chính phủ quy định). Hiện chỉ một số rất ít quốc gia có cơ chế thẩm định nội dung đơn nhanh dưới 3 tháng.

Luật yêu cầu chuyển đổi số toàn diện, đơn giản hóa quy trình xử lý đơn, tăng cường hậu kiểm, ứng dụng công nghệ mới và trí tuệ nhân tạo để thực hiện được các quy định về thời hạn trên, đồng thời nâng cao hiệu quả hoạt động SHTT.

Bên cạnh đó, Luật thúc đẩy khai thác thương mại quyền sở hữu trí tuệ. Theo đó, Luật đã quy định khung về việc hỗ trợ tạo ra và khai thác thương mại quyền sở hữu trí tuệ nhằm biến quyền này thành tài sản sinh lời, góp phần phát triển kinh tế-xã hội; quy định rõ chủ sở hữu được sử dụng quyền sở hữu trí tuệ để thực hiện giao dịch dân sự, thương mại, đầu tư,... theo quy định của pháp luật cũng như chính sách khuyến khích khai thác quyền sở hữu trí tuệ, sử dụng quyền sở hữu trí tuệ để góp vốn hoặc thế chấp để vay vốn.

img-6965.jpg
Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ thúc đẩy khai thác thương mại quyền sở hữu trí tuệ.

Để thúc đẩy và tạo thuận lợi cho các hoạt động khai thác thương mại quyền sở hữu trí tuệ, Luật cũng quy định hình thành cơ sở dữ liệu giá giao dịch quyền sở hữu trí tuệ để minh bạch thị trường, phát triển tổ chức trung gian (định giá, môi giới).

Trước thực trạng doanh nghiệp Việt Nam chưa có thói quen quản lý quyền sở hữu trí tuệ như một tài sản quan trọng, tình trạng quên không thực hiện việc duy trì hoặc gia hạn hiệu lực văn bằng bảo hộ vẫn còn khá phổ biến, Luật đã quy định trách nhiệm lập danh mục riêng để quản trị nội bộ đối với quyền sở hữu trí tuệ chưa đáp ứng điều kiện để ghi nhận giá trị tài sản trong sổ kế toán.

Theo Bộ Khoa học và Công nghệ, đây là những nội dung khởi đầu của bước chuyển trọng tâm từ “bảo hộ quyền” sang “khai thác, sử dụng quyền như một tài sản có giá trị”, giảm tình trạng “bằng độc quyền để treo”, mở rộng nguồn lực cho hoạt động sản xuất, kinh doanh, phục vụ phát triển kinh tế-xã hội.

Luật Sở hữu trí tuệ lần này bảo hộ đối tượng mới, cụ thể: bổ sung cơ chế bảo hộ kiểu dáng công nghiệp cho phần không tách rời được của sản phẩm (bảo hộ kiểu dáng công nghiệp riêng phần) và mở rộng bảo hộ kiểu dáng công nghiệp cho sản phẩm phi vật lý (thí dụ: giao diện đồ họa người dùng (GUI), icon..., bảo hộ quyền tác giả, quyền liên quan đối với tín hiệu cáp mang chương trình được mã hóa.

Luật cũng xử lý vấn đề mới phát sinh do sự phát triển của công nghệ, nổi bật là các vấn đề liên quan đến hệ thống trí tuệ nhân tạo (AI), cụ thể: quy định khai thác dữ liệu để nghiên cứu, thử nghiệm, huấn luyện hệ thống AI với điều kiện không ảnh hưởng bất hợp lý đến quyền và lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu, tác giả và tuân thủ các quy định của Chính phủ; quy định về vấn đề bảo hộ sở hữu trí tuệ đối với đối tượng do AI tạo ra hoặc có sử dụng AI trong quá trình tạo ra. Bên cạnh đó, về vấn đề đăng ký nhãn hiệu chứa tên quốc gia Việt Nam, Luật cũng đã bổ sung quy định kiểm soát việc đăng ký đối với nhãn hiệu này.

Tác động nhiều chiều tới xã hội

Theo Bộ Khoa học và Công nghệ, dự báo những chính sách sở hữu trí tuệ mới nêu trên sẽ có tác động đến người dân và xã hội.

Về tác động đối với kinh tế-xã hội, Luật được kỳ vọng sẽ thúc đẩy các hoạt động tạo ra, xác lập, bảo vệ và khai thác các đối tượng quyền sở hữu trí tuệ, góp phần thực hiện mục tiêu phục vụ nhân dân, phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, phát triển kinh tế tư nhân, văn hóa-xã hội, nhằm phát huy hiệu quả giá trị của việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ trong thực tiễn.

img-6399.jpg
Hoạt động nghiên cứu, phát triển công nghệ tại Tập đoàn Viettel.

Những quy định mới trong Luật giúp các doanh nghiệp và tổ chức, cá nhân được tạo điều kiện thuận lợi hơn khi thực hiện thủ tục đăng ký quyền sở hữu trí tuệ, có khả năng được cấp văn bằng bảo hộ sớm hơn do thời gian xử lý đơn đã được rút ngắn, có cơ hội được bảo hộ rộng hơn do Luật đã mở rộng các đối tượng bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ.

Việc khai thác thương mại quyền sở hữu trí tuệ của các tổ chức, cá nhân được Nhà nước hỗ trợ, khuyến khích, thúc đẩy. Quyền sở hữu trí tuệ được bảo hộ đầy đủ và hiệu quả hơn, kể cả trên môi trường thực và môi trường kỹ thuật số. Thông qua đó, các doanh nghiệp có thể nâng cao năng suất, nâng cao năng lực cạnh tranh, tăng doanh thu, lợi nhuận, phát triển kinh tế-xã hội bền vững, góp phần tăng trưởng GDP của đất nước nhằm đạt mục tiêu tăng trưởng hai con số.

Đồng thời, các quy định của Luật cũng góp phần phát triển thị trường tài sản trí tuệ trong nước, tăng cường thu hút đầu tư nước ngoài vào Việt Nam.

Về tác động đến thủ tục hành chính, Luật không phát sinh thủ tục hành chính mới và không giảm số lượng thủ tục hành chính do đây là các thủ tục cần thiết để tổ chức, cá nhân có thể yêu cầu bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, phù hợp yêu cầu của cam kết quốc tế.

Tuy nhiên, Luật sửa đổi, bổ sung các quy định về rút ngắn thời gian xử lý, cách thức tiếp nhận..., đồng thời chuyển các quy định chi tiết xuống văn bản dưới luật nhằm bảo đảm tính ổn định của Luật theo tinh thần của Nghị quyết số 66-NQ/TW, phù hợp với mục tiêu về việc đơn giản hóa thủ tục hành chính, tạo thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân trong thực hiện các thủ tục đăng ký, xác lập quyền sở hữu trí tuệ.

Bên cạnh đó, Luật cũng sửa đổi, bổ sung một số điều nhằm bảo đảm thống nhất với các nội dung về phân cấp, phân quyền cho địa phương thực hiện các thủ tục hành chính đã được quy định trong các văn bản pháp luật.

Về tác động đối với việc ứng dụng, thúc đẩy phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, Luật đã thể hiện được định hướng thúc đẩy khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, gắn kết chặt chẽ với tiến trình chuyển đổi số quốc gia, thông qua các quy định về chính sách “khuyến khích, thúc đẩy hoạt động đổi mới sáng tạo, khai thác, phát triển đối tượng quyền sở hữu trí tuệ”, quy định “thúc đẩy chuyển đổi số toàn diện hoạt động sở hữu trí tuệ thông qua việc ưu tiên phát triển đồng bộ hạ tầng số, cung cấp dịch vụ công trực tuyến, các nền tảng số phục vụ nghiệp vụ sở hữu trí tuệ”, “Nhà nước đầu tư để tự động hóa quy trình nghiệp vụ ứng dụng công nghệ, trong đó có dữ liệu lớn và trí tuệ nhân tạo để nâng cao hiệu quả, tính minh bạch của hoạt động sở hữu trí tuệ”...

Những quy định này không chỉ bảo đảm tính minh bạch, hiệu quả trong quản lý nhà nước, mà còn mở rộng cơ hội cho tổ chức, doanh nghiệp đổi mới sáng tạo, tận dụng công nghệ số để gia tăng giá trị và năng lực cạnh tranh của sản phẩm, dịch vụ Việt Nam trên thị trường trong nước và quốc tế.

Đối với tác động về giới và dân tộc, các quy định của Luật được áp dụng chung cho tất cả các tổ chức, cá nhân, không có quy định về đối xử khác nhau về giới và dân tộc, do vậy đáp ứng yêu cầu về bảo đảm bình đẳng giới và chính sách dân tộc. Đặc biệt, Luật đã bổ sung quy định Nhà nước hỗ trợ việc tạo ra, bảo hộ, khai thác, quản lý, phát triển đối tượng quyền sở hữu trí tuệ, đặc biệt là đối tượng quyền sở hữu trí tuệ của đồng bào dân tộc thiểu số.

Bên cạnh những tác động tích cực nêu trên, Bộ Khoa học và Công nghệ cũng khuyến cáo, Luật đã bổ sung các quy định nhằm tăng cường bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, như tăng cường các biện pháp xử lý xâm phạm trên không gian mạng, nâng cao mức bồi thường thiệt hại theo luật định, do vậy, các tổ chức, cá nhân cần lưu ý để tránh các hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, giảm thiểu thiệt hại về kinh tế và các thiệt hại khác.

Bên cạnh đó, các cơ sở hủy bỏ, chấm dứt hiệu lực văn bằng bảo hộ cũng được quy định bổ sung trong Luật, do vậy chủ sở hữu văn bằng bảo hộ, các tổ chức, cá nhân yêu cầu chấm dứt, hủy bỏ văn bằng bảo hộ có thể phát sinh thêm thời gian, chi phí trong quá trình theo đuổi vụ việc chấm dứt, hủy bỏ hiệu lực (chi phí thuê luật sư tư vấn, chi phí trưng cầu giám định, ý kiến chuyên gia...).

Có thể bạn quan tâm