Sống nhờ "lộc rừng"

Mùa nắng cũng như mùa mưa, không ít đồng bào dân tộc thiểu số (ĐBDTTS) ở huyện miền núi Bù Gia Mập, Bù Đăng, Bù Đốp (Bình Phước) lại kéo nhau vào rừng để lấy măng lồ ô, đọt mây rừng, nấm linh chi, lá nhíp… Đây là một trong những loại thức ăn chủ yếu của ĐBDTTS từ xưa đến nay, nhưng gần đây việc khai thác sản vật “trời ban” trở nên ồ ạt dẫn đến nguy cơ cạn kiệt các nguồn lợi từ rừng.

Người dân xã Đồng Nai, huyện Bù Đăng vào rừng thu hái lá nhíp để bán.
Người dân xã Đồng Nai, huyện Bù Đăng vào rừng thu hái lá nhíp để bán.

Mưu sinh cùng “lộc rừng”

Bỏ lại sau lưng những đoạn đường sình lầy quá đầu gối, men theo những lối mòn nằm ở triền dốc vào rừng với những đoạn đường trơn và dốc thẳng đứng, Hoàng Văn Phong, người dân tộc Tày (thị trấn Đức Phong, huyện Bù Đăng) len mình trong những bụi lồ ô, le để kiếm măng. Người vợ cũng vội lách mình vào bụi lồ ô bên cạnh lấy những chồi măng mới nhú lên khỏi mặt đất chừng gang tay. Vừa trở về với hai bao măng kiếm được, đôi tay của vợ chồng anh Phong rớm máu vì bị gai đâm, cành cây xước. Anh Phong chia sẻ: “Nghề lấy măng rừng như con sóc đi hết rừng này sang suối nọ, đi cả ngày mà chỉ kiếm được vài trăm nghìn đồng. Vào mùa mưa, măng rừng dễ kiếm, chứ mùa khô thì phải đi vào tận những khu rừng xa có nhiều khe suối, may ra những bụi lồ ô mọc gần suối mới có măng”.

Lấy măng rừng đã khó, chế biến nó thành những sản vật đem bán ở chợ lại càng khó hơn. Tối đến, vợ chồng anh Phong phải lột bỏ những lớp vỏ bọc bên ngoài búp măng và đem luộc cho măng hết vị đắng. Để những búp măng có mầu vàng đặc trưng, sau khi luộc xong, măng tiếp tục được ngâm trong nước cho đến sáng hôm sau đem ra chợ bán. Vào thời điểm chính vụ măng, giá măng rừng thấp, những người sống nhờ lộc rừng như anh Phong lấy măng về chế biến, phơi khô để đem bán. Như vậy giá măng sẽ cao hơn.

ĐBDTTS ở các huyện Bù Đăng, Bù Gia Mập, thường vào rừng tìm kiếm nguồn lợi từ rừng để có thêm thu nhập sau mùa nương rẫy. Tùy theo từng mùa, rừng lại cho những loại “lộc” khác nhau. Bên cạnh khai thác măng rừng, không ít người dân ở xã Đồng Nai (huyện Bù Đăng), xã Đắk Ơ, xã Bù Gia Mập (huyện Bù Gia Mập) còn vào rừng kiếm nấm linh chi, hạt mây, chuối rừng và hái lá nhíp… Bà Hoàng Nam, một người chuyên thu mua “lộc rừng” ở xã Đắk Ơ (Bù Gia Mập) cho biết: “Tôi ở đây gần 20 năm, gắn bó với người dân địa phương nhiều cho nên cũng phần nào hiểu được những khó khăn, vất vả của người đi tìm “lộc rừng”. Từ sáng sớm, đồng bào gọi nhau vào rừng, đến chiều muộn nhá nhem mặt người họ mới mang những thứ tìm được về bán”.

Cứ vào những ngày cuối tuần, có mặt tại đường vào thôn 8, xã Đồng Nai (huyện Bù Đăng) từ sáng sớm đồng bào kéo nhau vào rừng hái lá nhíp về ăn. Một số đem ra chợ bán. Lá nhíp đã trở thành món ăn đặc sản của tỉnh Bình Phước. Đối với đồng bào Xtiêng, lá nhíp đã trở thành những món ăn gắn bó từ nhiều năm nay. Có thể kể tên những món ăn truyền thống của người Xtiêng sử dụng nguyên liệu lá nhíp như: Canh thục, các món xào với đọt mây.

Chúng tôi gặp em Thi Quy (khu Đức Thọ, thị trấn Đức Phong, Bù Đăng) bán lá nhíp tại một góc chợ Bù Đăng. Quy nói, cứ khoảng 4 giờ chiều em lại có mặt tại đây để bán lá nhíp. Trung bình gia đình Quy mỗi ngày (vào mùa mưa) hái được khoảng chục kg lá nhíp, nếu đem bán hết cũng được vài trăm nghìn đồng, đủ đắp đổi qua ngày. Mùa khô khó kiếm lá nhíp hơn, nếu cả gia đình chịu khó lắm cũng chỉ kiếm được 4 kg/ngày. Nhưng giá lá nhíp mùa khô cũng tăng gấp đôi, một trăm đến một trăm hai mươi nghìn đồng/kg. Với nghề hái “lộc rừng” gia đình Quy có cuộc sống khá ổn định.

"Lộc rừng" chữa bệnh cứu người

Trong rừng có nhiều loại cây thuốc nam quý, dùng để chữa bệnh. Có những con người đã gắn bó với rừng, gắn bó với nghề tìm kiếm cây thuốc để chữa bệnh cứu người. Tuy nhiên để có những thang thuốc ấy, người đi rừng phải đổi bằng mồ hôi, máu, thậm chí là cả tính mạng.

Qua lời kể của chị Cúc, một người chuyên đi rừng lấy cây thuốc vừa là điểm thu mua cây thuốc nam để cung cấp cho các chùa, tiệm thuốc nam tại TP Hồ Chí Minh (xã Đồng Nai, huyện Bù Đăng), chúng tôi hiểu được phần nào những vất vả của nghề thuốc nam trong rừng. Để tìm được những vị thuốc quý, người ta phải len lỏi khắp rừng, nếu may mắn thì kiếm được vài bụi; nhưng khi tìm được thì việc lấy cây thuốc cũng không đơn giản.

Ngoài cây dứa nước, trên những khu rừng xã Đồng Nai cũng có một số loại cây thuốc nam quý như củ ráy, chuối hột rừng, những vị thuốc vừa quý lại vừa hiếm như: Thanh thiên quỳ, Lan gấm, Hà thủ ô, Ba kích, Thổ phục linh… Đây là những sản vật rừng ban cho những người vào rừng kiếm thuốc về chữa bệnh cứu người.

Nhưng nghề kiếm cây thuốc nam không phải ai cũng làm được. Chị Cúc cho biết thêm: “Nếu mình không hiểu công dụng của những cây thuốc nam thì chúng cũng giống như những cây củi bình thường. Nhưng khi biết kết hợp các cây thuốc nam thành một bài thuốc thì chúng có thể cứu được cả mạng người. Chính vì thế, nếu không am hiểu cây thuốc nam mà vào rừng tìm thuốc về chữa bệnh thì rất nguy hiểm”. Chính vì yêu cầu của nghề lấy cây thuốc nam, nên số người sống bằng nghề này không nhiều, chủ yếu là một số người ĐBDTTS.

Không thể phủ nhận vai trò của những sản vật từ núi rừng mang lại cho người dân tại các xã gần rừng, nhất là các hộ nghèo. Nhưng vấn đề đặt ra với người dân là phải khai thác một cách hợp lý, tránh tình trạng tàn phá rừng, làm cạn kiệt nguồn tài nguyên thiên nhiên. Bởi hiện nguồn lợi từ rừng như: lồ ô, mây rừng, nấm linh chi, lá nhíp… đang dần cạn kiệt. Đó là điều rất đáng lo đối với đời sống của người dân vốn phụ thuộc nhiều vào rừng. Vì vậy, địa phương cần có kế hoạch bảo vệ để mây rừng, lồ ô… có cơ hội phục hồi. Về phía người dân, khi khai thác cần theo mùa, vừa có hiểu biết về kỹ thuật, vừa phải có trách nhiệm bảo vệ rừng, để rừng mang lại nguồn lợi lâu dài và bền vững.

Có thể bạn quan tâm