Sông Đà và năm bậc thang thủy điện

Sông Đà, một con sông quốc tế, bắt nguồn từ vùng núi Ngụy Sơn của tỉnh Vân Nam (Trung Quốc), đổ vào nước ta tại địa phận Nậm Tè (Lai Châu), chảy theo hướng Tây Bắc-Đông Nam. Là nhánh sông lớn nhất trong ba nhánh lớn (Đà, Thao và Lô Gâm) thuộc hệ thống sông Hồng. Có tổng chiều dài (tính từ đầu nguồn Ngụy Sơn đến Trung Hà, chỗ sông Đà hợp lưu với sông Thao), là khoảng 980km; trong đó phần sông chảy trên lãnh thổ nước ta dài hơn 540km.

Theo những tài liệu nghiên cứu đo đạc thủy văn và khí tượng gần 100 năm trở lại đây cho thấy, nguồn nước sông Đà rất phong phú. Nó cung cấp gần 50% tổng lưu lượng dòng chảy của sông Hồng và là thủ phạm chính gây ra những trận lũ, lụt lớn ở hạ lưu sông Hồng.

Hơn nữa, do sông Đà bắt nguồn từ vùng núi cao, có lưu vực lớn, dòng chảy đổ xuống giữa hai khối kiến tạo đá vôi Phăng-xi-phăng và Pu-đen-linh địa hình rất hiểm trở, nên lòng sông có độ dốc lớn, nhiều thác ghềnh... rất mạnh mẽ và đặc biệt hung dữ khi mùa lũ đến. Tuy nhiên, chính nhờ có độ dốc, thác ghềnh... đã tạo cho con sông Đà trở thành con sông có tiềm năng thủy điện lớn nhất, chiếm tới 38,5% trữ năng kinh tế của toàn bộ hệ thống sông ngòi cả nước.

Việc nghiên cứu quy hoạch khai thác tổng hợp sông Đà cho sản xuất điện  năng, chống lũ trong mùa mưa... đã được Đảng và Nhà nước ta quan tâm rất sớm: Năm 1956 bắt đầu khảo sát tổng hợp sông ngòi, thành lập Văn phòng ủy ban trị thủy và khai thác sông Hồng...

Năm 1973 tiến hành xem xét lại quy hoạch, rồi năm 1975 lập xong thuyết minh tổng quan sông Đà và đã được Chính phủ phê duyệt cùng với thiết kế kỹ thuật thủy điện Hòa Bình (tại văn bản số 114/DT-SĐ, 30-12-1978). Lúc đó, việc khai thác tổng hợp toàn bộ dòng chính sông Đà đến tận biên giới Việt-Trung, được xác định chỉ là hai bậc thang, gồm hai công trình là thủy điện Hòa Bình với mực nước dâng bình thường (MNDBT) 115m và thủy điện Tạ Bú (nay gọi là thủy điện Sơn La) phương án cao, với MNDBT dự kiến 260m...

 Những năm 1984-1988, Bộ Năng lượng (nay là Bộ Công nghiệp) tiến  hành lập dự án đầu tư thủy điện Sơn La, và năm 1990  được  Nhà nước đưa vào danh mục chuẩn bị đầu tư...

Tiếp theo đó, công ty tư vấn xây dựng điện 1 (PECC1) đảm nhận lập báo cáo nghiên cứu tiền khả thi. Tiến hành nghiên cứu xác định vị trí xây dựng công trình (trên nhiều tuyến, từ Pa Vinh xuống Bản Tả, dài 35km) kết hợp với nghiên cứu nhiều phương án quy mô công trình từ thấp đến cao, tương ứng với MNDBT: 215m; 230m; 240m, 260m và 265m. Trong đó, quy mô thấp (215m) có công suất lắp đặt 2.400MW, phương án cao (260m-265m) có công suất tương ứng 3.000-3.600MW.

Việc nghiên cứu, lập báo cáo tiền khả thi và báo cáo khả thi công trình thủy điện Sơn La, đã phải “làm đi sửa lại nhiều lần”. Có hai nhóm ý kiến khác nhau (của các nhà khoa học và các chuyên gia nhiều ngành), về lựa chọn quy mô công trình (một nhóm chọn phương án thấp và một nhóm chọn phương án cao), với nhiều cuộc hội thảo và có những ý kiến tranh luận khá căng thẳng. Thậm chí, đã có không ít những ý kiến trái ngược nhau của các nhà tư vấn nước ngoài... Các kỹ sư, cán bộ Công ty Tư vấn xây dựng điện 1, sau khi thận trọng tính toán, cân nhắc những tác động nhiều mặt của từng phương án đối với xã hội, môi trường... đã đề nghị chọn phương án quy mô khai thác bậc thang thủy điện Sơn La thấp (215m).

Theo phân tích của PECC1: Phương án thấp cho sản lượng điện ít hơn so với phương án cao, nhưng giữ được thị xã Lai Châu và thị trấn Mường La không bị ngập, đỡ xáo trộn dân cư. Cơ sở hạ tầng ít bị thiệt hại. Thời gian thi công ngắn hơn, sớm đưa hồ chứa nước Sơn La vào sử dụng để tăng khả năng điều tiết nước, và tăng công suất bảo đảm cho thủy điện Hòa Bình 220 MW...

Đầu năm 2004, Thủ tướng Chính phủ quyết định phê duyệt đầu tư dự án Sơn La thấp (MNDBT 215 mét, tương ứng dung tích hồ chứa 9,26 tỷ mét khối, dung tích phòng lũ kết hợp với thủy điện Hòa Bình là 7 tỷ mét khối, công suất lắp máy 2.400MW...) và chỉ đạo Tổng công ty Điện lực Việt Nam (EVN) hoàn chỉnh quy hoạch bậc thang thủy điện trên sông Đà.

Có thể bạn quan tâm