Thăng trầm nhà sản xuất
Thật ra, khái niệm nhà sản xuất phim đúng nghĩa đã hình thành và phát triển tại Việt Nam cách đây vài chục năm, gắn chặt với một dòng phim thương mại, từng được gọi bằng cái tên chẳng mấy sang trọng “phim mì ăn liền”. Ngày ấy, những bộ phim video đình đám, phần lớn sản xuất ở phía nam và chiếm giữ vai trò thống lĩnh thị trường phim Việt trong suốt một thập kỷ (như Thăng Long đệ nhất kiếm, Lửa cháy thành Đại La, Sau những giấc mơ hồng, Tóc gió thôi bay...) đều gắn với những cái tên nổi tiếng năng động, nhạy bén trong lĩnh vực sản xuất phim như Lý Huỳnh, Đào Thu, Hai Nhất, Thái Hòa, Phước Sang... Rồi dòng phim này thoái trào, tàn lụi, chỉ còn duy nhất dạng phim do Nhà nước đặt hàng hoặc trợ giá tồn tại, do các đơn vị làm phim quốc doanh như Hãng phim truyện Việt Nam, Hãng phim truyện I hay Hãng phim Giải Phóng sản xuất. Và trên generique giới thiệu các thành phần làm phim, chức danh giám đốc sản xuất mặc nhiên luôn thuộc về người đứng đầu của hãng, cho dù nhân vật này chỉ thỉnh thoảng (hoặc không bao giờ) xuất hiện tại hiện trường. Kinh phí sản xuất do Nhà nước cấp, khâu phát hành có đơn vị chức năng riêng (Fafilm Việt Nam và các công ty phát hành - chiếu bóng của từng tỉnh, thành), phim lỗ lãi ra sao, thành công hay thất bại về mặt doanh thu, nhà sản xuất - giám đốc hãng không mấy quan tâm.
Vì thế, thay vì có một nhà sản xuất đúng nghĩa cho mỗi dự án, điện ảnh Việt Nam sinh ra một chức danh mới: chủ nhiệm phim, với chức năng “ôm cục tiền” đi theo đoàn phim để chi trả mọi khoản kinh phí từ nhỏ đến lớn. Đó là với những tác phẩm có mức đầu tư hoành tráng, còn trong những phim eo hẹp về tài chính, vị trí chủ nhiệm được đạo diễn kiêm nhiệm luôn thể. Thực tế đó đồng nghĩa với việc “ông vua trường quay” được thỏa sức “tự tung, tự tác”, trong cả sáng tạo nghệ thuật lẫn tiêu tiền. Chất lượng phim, vì thế, phụ thuộc hoàn toàn vào lương tâm và lòng yêu nghề đến đâu của ông đạo diễn, nói như dân điện ảnh là “cũng năm ăn, năm thua”.
Chủ trương xã hội hóa điện ảnh được đẩy mạnh. Thời của các hãng phim tư nhân đã đến, khi trong khoảng chục năm trở lại đây, phim của họ ngày càng chiếm thế thượng phong, ngày càng giữ vị thế áp đảo cả về số lượng tác phẩm, kinh phí đầu tư, doanh thu phòng chiếu lẫn những giải thưởng Bông sen, Cánh diều danh giá. Đã hình thành một đội ngũ nhà sản xuất phim đích thực, có tên tuổi như Phước Sang (Hãng phim Phước Sang), Jimmy Nghiêm Phạm (Hãng phim Chánh Phương), Đinh Thị Thanh Hương (Hãng phim Thiên Ngân - Galaxy Studio) Hồng Ánh (Hãng phim Xanh - Blue Productions), Ngô Thị Bích Hạnh (Hãng phim Việt - BHD)... Nếu Phước Sang luôn gây bão doanh thu với những bộ phim hài theo công thức tập hợp “dàn sao tạp kỹ” chuyên trị chiếu Tết như Võ lâm truyền kỳ, Hello cô Ba, Thiên sứ 99, Công chúa teen và Ngũ hổ tướng, Đẻ mướn, Khi đàn ông có bầu... thì Hồng Ánh tập trung vào những dự án phim nghệ thuật với phong cách hiện đại, mới mẻ, do người trẻ làm và cũng hướng tới đối tượng xem là người trẻ tuổi như Đường đua, 16:30... Hãng phim Việt thuộc BHD ghi dấu ấn với Cánh đồng bất tận, Cô dâu đại chiến 1&2, Đẹp từng centimet, Lửa Phật, Long ruồi...Hãng phim Chánh Phương, với Dòng máu anh hùng, Cú và chim se sẻ, Bẫy rồng, Cưới ngay kẻo lỡ, Tèo em, Để Mai tính, Để Hội tính... đã nhiều lần xô đổ kỷ lục phòng vé khi đưa phim ra rạp. Điểm chung giữa những “bà đỡ mát tay” này là họ đều dân tay ngang, chưa hề kinh qua một giáo trình đào tạo bài bản về lĩnh vực này, khi xuất thân là những nghệ sĩ điện ảnh có tài năng và bề dày kinh nghiệm như Phước Sang, Hồng Ánh... hay phải kiêm nhiệm chức danh sản xuất phim bên cạnh công việc quản lý như Jimmy Nghiêm Phạm, Đinh Thị Thanh Hương, Ngô Thị Bích Hạnh... Lẽ dĩ nhiên, được đào tạo bài bản chưa chắc đã trở thành nhà sản xuất giỏi và ngược lại nhưng rõ ràng, chỉ khi mỗi bánh răng trong dây chuyền sản xuất đều có thể vận hành nhịp nhàng và ăn khớp, điện ảnh mới có thể tiến xa trên con đường phát triển “theo hướng công nghiệp, hiện đại và hội nhập quốc tế” được.
Đào tạo bài bản
Nhận thức rõ điều đó, “Chiến lược phát triển điện ảnh đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030” (được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt ngày 11-11-2013 và vừa được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đưa ra kế hoạch tổng thể triển khai thực hiện vào cuối tháng 4-2014) đã đánh dấu mốc đầu tiên đầy ý nghĩa, khi vai trò vô cùng quan trọng của nhà sản xuất phim chuyên nghiệp, trong quá trình cho ra đời một bộ phim giá trị, đã chính thức được khẳng định.
Cụ thể, lần đầu tiên trong lịch sử điện ảnh nước nhà, chuyên ngành “sản xuất phim” được chính thức đưa vào chương trình đào tạo của hai cái nôi ươm mầm các nghệ sĩ điện ảnh trên cả nước. Đại học SKĐA Hà Nội đảm nhiệm tỷ lệ 60%, 40% còn lại thuộc nhiệm vụ của Đại học SKĐA TP Hồ Chí Minh. Theo bản kế hoạch tổng thể, 70 - 105 nhà sản xuất phim tương lai sẽ được đào tạo theo mô hình chính quy dài hạn trong nước, 4 - 6 (giai đoạn 2014 - 2015) và 15 - 25 nhà sản xuất phim tương lai (giai đoạn 2016 - 2020) sẽ được đào tạo bài bản theo hình thức trên tại nước ngoài. Với nội dung “tổ chức các khóa đào tạo, thực tập ngắn hạn để nâng cao tay nghề”, 70 - 105 nhà sản xuất phim sẽ được tham gia trong khoảng từ 2014 đến 2020 (ở trong nước) và 6 -10 nhà sản xuất phim (giai đoạn 2014 - 2015) cùng 25 - 50 nhà sản xuất (giai đoạn 2016 - 2020) sẽ được gửi ra nước ngoài để trau dồi vốn kiến thức làm nghề.
Đây cũng là chủ trương đúng đắn, thể hiện sự nhìn xa, trông rộng của các nhà quản lý ngành nghệ thuật thứ bảy. Bởi đội ngũ những nhà sản xuất phim được đào tạo bài bản, được học tập trong những môi trường đào tạo chuyên nghiệp cả trong và ngoài nước sẽ là nguồn nhân lực chất lượng cao dồi dào giúp hiện thực hóa chiến lược đề ra. Từ đó góp phần quan trọng giúp điện ảnh nước nhà hướng tới và đạt mục tiêu tổng quát “trở thành nền điện ảnh có bản sắc và uy tín ở châu Á” vào năm 2030.
Công chúa teen và Ngũ hổ tướng, phim của nhà sản xuất Phước Sang.
| Nhà sản xuất phim (film producer) là người song hành cùng tác phẩm, từ phát hiện ý tưởng ban đầu tới xây dựng, hoàn thiện kịch bản; từ kêu gọi các kênh đầu tư tài chính tới hình thành một ê-kíp làm phim tối ưu; từ vận hành nhịp nhàng các khâu sản xuất tiền kỳ, hậu kỳ tới triển khai các công đoạn truyền thông, tiếp thị, phân phối, phát hành... Nói tóm lại, nhiệm vụ của họ là xuất xưởng một tác phẩm đạt chất lượng nghệ thuật và kỹ thuật cao nhất, trong khoảng thời gian và nguồn ngân sách được giới hạn cụ thể. |
| Thay vì có một nhà sản xuất đúng nghĩa cho mỗi dự án, điện ảnh Việt Nam sinh ra một chức danh mới: chủ nhiệm phim, với chức năng “ôm cục tiền” đi theo đoàn phim để chi trả mọi khoản kinh phí từ nhỏ đến lớn. |
| Lần đầu tiên trong lịch sử điện ảnh nước nhà, chuyên ngành “sản xuất phim” chính thức được đưa vào chương trình đào tạo của hai cái nôi ươm mầm các nghệ sĩ điện ảnh trên cả nước. |