Sáu giải pháp chính nâng cao chất lượng dân số

Bước vào thế kỷ 21, thực hiện chiến lược phát triển nguồn nhân lực phục vụ công cuộc CNH, HÐH đất nước, một trong những nhiệm vụ trọng tâm của Chiến lược Dân số Việt Nam 2001-2010 là nâng cao chất lượng dân số. Ðể thực hiện được nhiệm vụ này, cần duy trì xu thế giảm sinh vững chắc, ổn định quy mô dân số ở mức hợp lý;  sớm giải quyết đồng bộ, có trọng điểm các vấn đề cơ cấu, phân bổ dân cư.

Chỉ số phát triển con người là một chỉ tiêu tổng hợp, phản ánh toàn diện các thành tựu về kinh tế - xã hội, mà trực tiếp con người được hưởng thụ.

Trong bối cảnh của quá trình đổi mới nền kinh tế, sự gia tăng dân số đã ảnh hưởng trực tiếp đến số lượng và chất lượng của  nguồn lao động.  Lực lượng lao động ở nước ta chủ yếu tập trung ở nhóm tuổi từ 15 đến 34 tuổi. Năm 1999, số lao động trong nhóm 15 - 34 tuổi chiếm 50,78% tổng số người trong độ tuổi lao động. Năm 2000, nhóm này có 19.339.482 người, chiếm tỷ lệ 50,04%.

Một trong những thành tựu lớn trong thời gian qua là nước ta đã nâng cao được mặt bằng dân trí của dân cư. Số người  lao động biết chữ chiếm khá cao so với các nước có cùng thu nhập. Năm 1999, tỷ lệ lao động biết chữ đạt 96%, so với năm 1989 tăng 12%. Xu hướng chung là số lao động có trình  độ văn hóa THCS, THPT tăng dần và số người có trình độ văn hóa thấp giảm dần.

Ðáng chú ý, những yếu tố xã hội, nhất là mức sống dân cư cũng tác động mạnh mẽ đến chất lượng dân số. Theo báo cáo của Tổng cục Thống kê, nước ta có hơn năm triệu người tàn tật, chiếm 6,3% dân số; tỷ lệ dân số bị thiểu năng thể lực và trí tuệ chiếm gần 1,5%; tỷ lệ dưới năm tuổi suy dinh dưỡng ở mức 25,2% (năm 2005); tỷ lệ hộ đói nghèo chiếm 20%. Cả nước còn 11.058 hộ không có nhà ở. Ở nông thôn chỉ có khoảng 16,5% số hộ có phương tiện sản xuất.

Sự bền vững của gia đình bị tác động mạnh bởi tỷ lệ ly hôn, sống độc thân có xu hướng tăng, tình trạng trẻ em thiếu bố  hoặc mẹ, trẻ em lang thang và các tệ nạn xã hội, đặc biệt là tệ nạn nghiện hút ma túy tăng lên. Tư tưởng trọng nam khinh nữ, ảnh hưởng do phong tục tập quán có thể phá vỡ sự cân bằng tỷ lệ giới tính. Tỷ lệ trẻ em mắc  dị tật bẩm sinh, thiểu năng trí tuệ còn cao. Hệ thống chăm sóc sức khỏe di truyền chưa được chính thức xây dựng...

Trước thực trạng nói trên, chúng tôi kiến nghị các cấp, các ngành có liên quan cần thực hiện sáu giải pháp chính nhằm nâng cao chất lượng dân số.

Thứ nhất, cần duy trì được xu thế giảm sinh vững chắc, ổn định quy mô dân số ở mức hợp lý góp phần bảo đảm phát triển bền vững. Hiện nay, khoa học và công nghệ trên thế giới đã đạt được  nhiều thành tựu về công nghệ sinh học, nhất là đã giải mã được bản đồ gien người. Chúng ta cần đẩy mạnh, xúc tiến những nghiên cứu và ứng dụng khoa học về di truyền học, sàng lọc gien, chữa bệnh di truyền, các kỹ thuật y sinh học khác...

Thứ hai,  nâng cao chất lượng dân số, trong nhóm người ít học, thất học hoặc sống ở vùng sâu, vùng xa bằng việc ưu tiên cung cấp các dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản.

Thứ ba, có  biện pháp đặc thù đối với  nhóm dân cư đặc trưng:  Giáo dục sức khỏe sinh sản và các dịch vụ cho lứa tuổi vị thành niên có thai, có dịch vụ và tư vấn đặc thù cho lứa  đối tượng phụ nữ lớn tuổi mang thai;  chú trọng các vấn đề về sức khỏe sinh sản đối với nhóm người bị tật nguyền; những người thuộc nhóm kinh tế (nghèo đói) và vị thế xã hội thiệt thòi cần được ưu tiên trong các dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản.

Thứ tư,  khuyến khích  kết hôn ở độ tuổi thích hợp và ủng  hộ xây dựng quy mô gia đình ít con. Xóa bỏ thành kiến trọng nam khinh nữ nhằm duy trì sự cân bằng về tỷ lệ giới tính.

Thứ năm, xây dựng hệ thống thông tin quản lý chất lượng dân số. Xây dựng và củng cố hệ thống đăng ký theo dõi các trẻ nhỏ bị khuyết tật bẩm sinh và các nhóm dân cư đặc biệt. Thứ sáu, triển khai thực hiện có hiệu quả các đề án thực hiện Chiến lược xây dựng gia đình Việt Nam giai đoạn 2005-2010 và các mô hình can thiệp nhằm xây dựng gia đình ít con,  ấm no, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc.

Có thể bạn quan tâm