Từ năm 1993 một số đơn vị, công ty giống nông nghiệp trong tỉnh đi tiên phong trên lĩnh vực này và đã đạt được những thắng lợi bước đầu trong nhân cấy dòng giống lúa bố mẹ, sản xuất lúa lai F1. Kế thừa, phát huy những thành tựu đạt được trong khảo nghiệm, sản xuất lúa lai cuối thế kỷ trước, những năm đầu thế kỷ 21 tỉnh Thanh Hóa triển khai, thực hiện gần 10 đề tài khoa học ứng dụng với tổng nguồn kinh phí đầu tư hơn năm tỷ 765 triệu đồng để thực hiện chương trình sản xuất hạt giống lúa lai F1. Các đề tài, dự án khoa học, công nghệ đã được triển khai ở các Trung tâm nghiên cứu, trạm trại, hộ nông dân ở các huyện Yên Ðịnh, Thọ Xuân, Nga Sơn, Quảng Xương, Hoằng Hóa. Nhiều địa phương, nông hộ đã tham gia sản xuất thử nghiệm hạt giống lúa lai F1. Ðội ngũ cán bộ, kỹ sư, giáo viên ở các doanh nghiệp, trung tâm nghiên cứu ứng dụng, Trường đại học Hồng Ðức nghiên cứu hoàn thiện công nghệ nhân dòng A, R của một số tổ hợp lúa lai ba dòng; nhân dòng bố mẹ một số tổ hợp lúa lai F1 hệ hai dòng; sản xuất hạt giống nguyên chủng bố mẹ một số tổ hợp lúa lai ba dòng và hai dòng; xây dựng mô hình chế biến, bảo quản lạnh hạt giống lai F1 và đồng hành cùng nông dân trong chuyển giao công nghệ sinh học, ứng dụng các tiến bộ khoa học, kỹ thuật vào sản xuất. Bên cạnh đó, Thanh Hóa tiếp tục nghiên cứu, tuyển chọn một số tổ hợp lúa lai có năng suất, chất lượng cao phù hợp các vùng sinh thái, tăng cường đào tạo cán bộ kỹ thuật phục vụ chương trình sản xuất lúa lai F1. Kết quả đã đào tạo được 72 cán bộ kỹ thuật chuyên sâu về sản xuất hạt giống lúa lai F1. Lực lượng này được tăng cường về cơ sở cùng với đội ngũ cán bộ sở tại trực tiếp chỉ đạo các điểm sản xuất giống của tỉnh. Nhờ đó nông hộ đã làm chủ công nghệ nhân cấy, duy trì dòng giống bố mẹ, sản xuất tổ hợp lúa lai như Nhị ưu 63, Nhị ưu 838, Bắc ưu 903, D ưu 527, HYT 83, HYT 100, VL 20, TH33-1, v.v. Mặt khác, tỉnh Thanh Hóa ban hành chính sách khuyến khích các thành phần kinh tế sản xuất lúa lai, như hỗ trợ 14 triệu đồng/ha để đầu tư cơ sở hạ tầng, kiên cố hóa kênh mương, xây dựng nhà kho, sân phơi đối với vùng giống có quy mô từ 30 ha trở lên và hỗ trợ thêm 8 triệu đồng/ha để mua giống bố mẹ, hóa chất phòng bệnh khi tổ chức sản xuất lúa lai F1, bảo quản sau thu hoạch. Do vậy nhiều địa phương, HTX và toàn tỉnh có khoảng 1.600 hộ nông dân tham gia sản xuất lúa lai F1. Sản xuất lúa lai dần "chuyên nghiệp" hóa, thúc đẩy phân công lao động xã hội trong khu vực nông nghiệp, nông thôn.
Về Yên Ðịnh, một trong những huyện có bề dày kinh nghiệm sản xuất lúa lai trong tỉnh Thanh Hóa, chúng tôi được Phó Giám đốc Trung tâm học tập cộng đồng xã Ðịnh Tường Trần Ngọc Côn, cho biết: Là xã nông nghiệp thuộc vùng trọng điểm thâm canh lúa, Ðịnh Tường quan tâm ứng dụng công nghệ sinh học vào sản xuất. Hằng năm Ðịnh Tường mời các kỹ sư ở tỉnh ngoài, Công ty giống cây trồng T.Ư, trạm khuyến nông huyện và cán bộ kỹ thuật HTX nông nghiệp mở lớp tập huấn, chuyển giao quy trình kỹ thuật sản xuất lúa lai F1 cho gần 1.000 nông hộ. Năm 2009 Ðịnh Tường có tới gần 200 ha sản xuất lúa lai F1 (chiếm 40% diện tích canh tác) cho năng suất 21 tạ/ha, chất lượng hạt giống đạt tiêu chuẩn quốc gia. Toàn bộ sản phẩm được HTX thu mua, bảo quản cung ứng cho thị trường và giá trị thu nhập gấp 1,3 lần sản xuất lúa thường. Sản xuất lúa lai F1, đưa tổ hợp lúa lai vào gieo cấy đại trà góp phần nâng giá trị sản xuất vượt ngưỡng 74 triệu đồng/ha, thu nhập đạt gần 11 triệu đồng/người/năm.
Trên địa bàn huyện Yên Ðịnh còn có xã Ðịnh Tân, Ðịnh Tiến cùng tham gia sản xuất lúa lai F1 và đây cũng là huyện luôn dẫn đầu phong trào thi đua, đạt được thắng lợi toàn diện trên mặt trận sản xuất nông nghiệp ở Thanh Hóa. Ðược biết, từ buổi đầu chỉ có 40 ha sản xuất lúa lai F1, đến nay trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa đã có gần 500 ha chuyên sản xuất lúa lai F1. 5 năm trở lại đây, toàn tỉnh sản xuất được 3.157,3 tấn hạt giống F1, bằng 31,6% diện tích gieo cấy/năm. Nhiều địa phương, nông hộ còn tham gia xây dựng vùng giống lúa nhân dân, đưa lúa lai vào gieo cấy đại trà trong các vụ sản xuất. Chuyển giao công nghệ, sản xuất lúa lai F1 trên địa bàn tỉnh không chỉ chủ động nguồn giống tại chỗ còn giảm một phần ba giá thành so với giống nhập từ Trung Quốc, góp phần giảm chi phí đầu vào cho hộ nông dân làm nông nghiệp. Theo số liệu tổng hợp, trung bình giá giống lúa lai sản xuất trong tỉnh rẻ hơn từ tám đến 12 nghìn đồng/kg so với giống nhập từ Trung Quốc, thậm chí giá giống Nhị ưu 838 chỉ bằng một phần hai giống nhập. Chủ động nguồn giống bố mẹ, ổn định đầu ra nên sản xuất lúa lai hai dòng được đánh giá là hướng đi bền vững, hiệu quả, nông hộ thực lãi từ 800 nghìn đến 1,2 triệu đồng/sào. Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Thanh Hóa Nguyễn Xuân Sang khẳng định: Thanh Hóa đã sản xuất thành công và hiện dẫn đầu toàn quốc về diện tích, chủng loại lúa lai F1.
Thành tựu nổi bật ở Thanh Hóa là chương trình sản xuất giống lúa lai F1 góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu mùa vụ, mở rộng diện tích lúa lai từ 20% lên hơn 44% diện tích chuyên canh lúa nên năng suất, sản lượng tăng nhanh. Nếu như cuối thế kỷ trước năng suất lúa chỉ đạt 40 tạ/ha, sản lượng chưa năm nào vượt ngưỡng một triệu tấn lương thực thì nay mặc dù diện tích chuyên canh lúa không tăng nhưng riêng niên vụ vừa qua năng suất lúa trung bình đạt 56,4 tạ/ha, sản lượng lúa đạt hơn 1,66 triệu tấn, tăng 1,5 lần so với năm 2000. Qua khảo sát, tính toán, Thanh Hóa đã dư thừa lương thực. Cùng với tiếp tục vững chốt an ninh lương thực, hai năm trở lại đây Thanh Hóa tập trung xây dựng vùng lúa thâm canh năng suất, chất lượng hiệu quả cao, thúc đẩy ngành trồng trọt phát triển theo hướng sản xuất hàng hóa. Năm 2010 Thanh Hóa tiếp tục xây dựng thêm 12.000 ha lúa năng suất, chất lượng, hiệu quả cao, dần chuyển một phần diện tích chuyên canh cây lương thực sang trồng các loại cây nông sản, thực phẩm hàng hóa. Ðể thực hiện thắng lợi chương trình này, Thanh Hóa tiếp tục đẩy mạnh chương trình sản xuất lúa lai F1, định hình 770 ha sản xuất giống lúa lai F1 vào năm 2015, đưa lúa lai vào gieo cấy đại trà hơn 49% diện tích.
Mai Luận