49 năm về trước, tại ngôi nhà trong khu vườn rừng này, cô gái Vũ Thị Khiêm đã được cha mẹ gả chồng khi vừa tròn 18 tuổi. Sau đám cưới, chồng cô về cùng với vợ. Ðứa con trai đầu lòng lẫm chẫm bước đi, cũng là ngày người cha trẻ đi bộ đội, vào nam đánh Mỹ. Năm 1968, anh hy sinh. Ðứa con thứ hai chào đời mà chưa kịp biết mặt cha. Góa chồng khi mới hơn hai mươi tuổi, người thiếu phụ trẻ thật khó đứng vững trước nỗi đau đớn mất mát quá lớn, nếu không có cha mẹ và hai đứa con làm điểm tựa. Ðiều đặc biệt nữa là, chị còn có đàn cò làm bạn. Những con cò trắng hiền lành, ngay từ ngày ấy, đã như cảm nhận thấy nơi có ngôi nhà nhỏ nép vào sườn núi Chằm Sai rậm rạp, um tùm cây trái, chính là chốn bình yên cho chúng đi về.
Năm tháng lặng lẽ trôi. Lần lượt, cha mẹ già đều khuất bóng. Người thiếu phụ trẻ như tựa vào cánh rừng và cả những chớp trắng cánh cò chiều chiều chao nghiêng trên mái nhà mà tìm nguồn sống vươn lên. Nhưng, sự nghiệt ngã của số phận vẫn chưa dừng ở đấy, bởi sau này, người con trai đầu của bà, đã qua đời sau một tai nạn đột ngột khi mới hơn ba mươi tuổi, để lại cho mẹ già đàn cháu nhỏ dại. Hai người con dâu của bà Khiêm, người tái giá, người tách ra với cuộc sống riêng. Một mình bà chèo chống nuôi đàn cháu nhỏ. Không nói, thì hẳn ai cũng có thể hình dung cảnh nhà neo túng ra sao khi một bà già phải chăm nuôi đàn cháu nhỏ, kinh tế gia đình trông vào mấy sào ruộng khoán. Vậy mà, để giữ sự yên ổn cho đàn cò, dù biết rõ mười mươi giá trị lâm lộc của vườn rừng, bao năm nay, bà Khiêm đã không hề khai thác hay bán đi một cây gỗ dù nhỏ. Không những thế, bà còn tìm cách trồng thêm cây. Nắm rõ quy luật vào đầu xuân rừng tre sẽ trút lá, lo bầy cò không có chốn ấm áp náu mình cho giấc ngủ đêm, lại biết rõ loài cò còn ưa đậu và làm tổ ở những loài cây có vòm lá rậm rạp, bà lầm lụi kiếm tìm cây giống về trồng.
Rừng cây càng ngày càng rậm rạp, xanh tốt thêm, bầy cò về đông hơn, sinh sôi nảy nở nhiều hơn, thì mái tóc bà càng bạc đi, dáng người bà càng gầy gò, mong manh, khắc khổ hơn. Ðã có bao đêm bà không thể yên giấc khi nghe tiếng đàn cò kêu động. Chúng bị con thú nào tiến công, hay bị con người săn bắt? Và bất chấp đêm tối, bất kể đang mưa gió hay giá lạnh, một mình bà trở dậy tìm ra với lũ cò. Dưới màn đêm mịt mờ, bà đứng dưới tán cây hoặc đi rảo một vòng ra sau rừng đánh tiếng xua đuổi lũ người vô ý thức mò đến vườn vào mùa cò sinh nở để bắt trộm cò con.
Chờ cho cả bầy chim lại yên vào giấc ngủ, bà mới trở về. Bà xót xa khi tận mắt thấy bọn người nhẫn tâm rình mò tìm đủ cách bắt đi hàng xâu cò non. Lòng bà như xát muối khi thấy đàn cò hiền lành không được bình yên. Ðến tận lúc này, dù chính quyền xã Hải Lựu đã đề ra quy định: Ai bắt trộm cò sẽ bị phạt, giá phạt cho việc bắt trộm một con cò là 50.000 đồng. Vậy nhưng, chuyện bắt trộm, bắn trộm cò vẫn xảy ra hằng ngày và kéo dài suốt cả bốn mùa, càng khiến bà đau đáu bức xót... Bà bảo, không biết bao nhiêu lần, bà từ chối những lời mời chào đánh đổi vườn cò để lấy về một khoản tiền bạc tỷ. Bà sợ những tiếng động của sự chặt phá sẽ khiến loài chim hiền lành này bỏ đi. Bà lo, những người khác đến ở khu vườn rừng này, vì cái lợi riêng sẽ khiến đàn cò mất tổ...
Cứ như thế, bà lặng lẽ bươn trải. Ðứa cháu gái lớn nay đã có gia đình riêng và một công việc ổn định. Ðứa cháu gái thứ hai đang vừa đi học vừa đi làm - tuy vậy, bà vẫn phải hỗ trợ tiền học. Dưới tán rừng chiều ấy, bà dẫn chúng tôi leo núi đi thăm vườn cò. Giờ này, cò chưa về. Chúng còn đang kiếm ăn trên những cánh đồng xa gần. Lặng ngắm dáng bà gầy mảnh, xiêu xiêu, đi trong lối mòn mấp mô đá dưới tán rừng rộng hơn năm ha, trong lòng tôi cồn lên một cảm giác thương mến xen lẫn lo âu khó tả.
Với bà Khiêm, việc tự nguyện trông coi, chăm chút cho đàn chim trời này không phải để được nổi tiếng. Ðiều khiến bà đau đáu đó là làm sao cho thiên nhiên, cả những con vật chung quanh con người cũng phải được yêu thương, săn sóc, bảo vệ. Ðể mai sau, con cháu chúng ta vẫn còn có một môi trường trong lành bình yên mà sinh tồn. Ðiều mà bà Khiêm mong mỏi, cũng chính là điều mà loài người đang rất day dứt, lo lắng. Môi trường đang bị con người tàn phá không thương tiếc. Làm thế nào để giữ được sự trong lành, bình ổn cho mai sau? Ðó là câu hỏi khiến tất cả những ai có lương tri đều băn khoăn. Còn bà Khiêm, bằng việc làm của mình, đã và đang lay động tâm can bao nhiêu con người.
Chưa hết, bà luôn khiến tôi đi từ ngạc nhiên này đến cảm phục khác - khi bà kể cho tôi nghe, lần bà được mời đi dự một Hội thảo khoa học nhằm triển khai đề án, kế hoạch cải tạo rừng cò. Trước đông đảo các nhà khoa học, các nhà lãnh đạo, bà đã lên diễn đàn nói về đàn cò. Và sự am tường, hiểu biết của bà về tập tính của loài cò khiến các đại biểu phải ngạc nhiên, khâm phục, khi bà từ tốn, nhẹ nhàng mà trình bày rằng: Với đề án lớn lao ấy, bà rất cảm ơn Nhà nước đã quan tâm đến bà, đến việc làm của bà, đến thiên nhiên. Thế nhưng, nếu cứ theo đó mà đào một hồ sâu tới 1,5 m để chứa nước và làm nơi thả tôm tép cho đàn cò kiếm ăn thì quả là không ổn. Loài cò chỉ có thể mò tôm bắt tép, kiếm ăn ở những chân ruộng nông, chứ với cái đầm nước sâu tới 1,5 m thì họa là chỉ có vịt mới lội nổi.
Làm sao lũ cò có thể kiếm ăn nơi đầm nước sâu như thế? Ðáp lại ý tưởng sẽ đầu tư làm một con đường to rộng, trải thảm nhựa đến tận cổng nhà bà để đón khách tham quan rừng cò và tiện việc đi lại cho gia đình, bà Khiêm cũng trình bày rằng: Ðàn cò vốn chỉ ưa nơi tĩnh mịch. Nếu có con đường, theo đó là sự xuất hiện của con người; ắt hẳn sẽ kèm theo ồn ào, bụi bặm, ô nhiễm và những con mắt dòm ngó thiếu thiện chí, thì cái khung cảnh tĩnh mịch hiện tại của rừng cò sẽ bị phá vỡ, mà như thế, đàn cò sẽ chẳng dám về tổ. Và rừng cò cũng sẽ vì thế mà không còn. Bà chỉ xin một điều rằng, cùng với việc dựng một chòi canh, hãy gắng xây cho bà một bức tường rào chắc chắn bao quanh rừng cò. Ðể phần nào hạn chế sự săn bắt trộm, cũng là thuận hơn cho bà khi đi trông coi, chăm sóc khu rừng. Còn việc cải tạo, theo bà, phải cố gắng giữ lại vẻ hoang sơ tự nhiên của vườn rừng, phải thường xuyên trồng bổ sung cây, nhất là những loài cây mà cò ưa đậu để chúng luôn có chốn bình an mà nương náu. Bởi những con chim hiền lành mà rất nhạy cảm này sẽ ngay lập tức tan tác chỉ vì một tiếng động mạnh, chứ đừng nói đến việc chặt phá chỗ này, xây cất, thay đổi chỗ kia...
Trước lúc chia tay bà khẽ nói với tôi: Từ tháng 10-2008, tôi được Nhà nước chi cho mỗi tháng một khoản tiền trách nhiệm. Tôi đã được xã cho lĩnh tháng 11, 12, năm ngoái. Còn từ đầu năm 2009 đến nay thì vẫn chưa thấy được lĩnh tiếp... Sao vậy ạ? chúng tôi cùng bật lên hỏi. Bà cười nhẹ: Tôi cũng không rõ. Chắc các anh trên xã còn bận nhiều việc, nên việc này để sau cũng nên...
Hoàng hôn đã xuống khuất sau rặng núi xa. Và kia, trên nền trời đỏ ối đang chớp lên trắng xóa những cánh cò... Chúng đang chao lượn cùng nhau tìm về tổ. Nơi có người đêm ngày luôn mong đợi chúng bình yên trở về, luôn dành cho chúng một tình yêu thương ấm áp.