Rào cản đối với áp dụng sản xuất sạch hơn tại Việt Nam

Chiến lược Sản xuất sạch hơn trong công nghiệp đến năm 2020 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, với mục tiêu phổ biến rộng rãi công cụ này vào các cơ sở sản xuất tại Việt Nam nhằm tăng cường hiệu quả sản xuất công nghiệp, đồng thời giảm thiểu chất thải và tác động của các cơ sở sản xuất đến môi trường và sức khỏe con người.

Sản xuất sạch hơn (SXSH) đã được phổ biến tại Việt Nam từ những năm 90 của thế kỷ trước bằng sự thành lập của Trung tâm sản xuất sạch Việt Nam và nỗ lực của nhiều nhà tài trợ như Thụy Ðiển, Ca-na-đa, Ðan Mạch,... Tuy đã được trình diễn tại hàng trăm cơ sở sản xuất và lợi ích của nó đã được chứng minh trên thực tế, được truyền thông trên các phương tiện thông tin đại chúng, nhưng mức độ lan tỏa của SXSH đã không được như mong muốn. Nhiều doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp vừa và nhỏ còn xa lạ, chưa hiểu và chưa áp dụng công cụ này. Các chuyên gia trong và ngoài nước cho rằng đang có những yếu tố được coi là rào cản của SXSH tại Việt Nam. Những rào cản này có thể được phân thành bốn loại hình chính: chính sách của Nhà nước, động lực của cơ sở sản xuất, rào cản về kỹ thuật và rào cản về quản lý. 

Về vấn đề chính sách, tuy có nhiều cố gắng và xây dựng được hệ thống chính sách về bảo vệ môi trường tương đối toàn diện, nhưng chúng ta còn gặp nhiều khó khăn trong việc cưỡng chế tuân thủ đối với các quy định của Nhà nước. Do vậy nhiều cơ sở sản xuất chưa thật sự quan tâm đến bảo vệ môi trường. Nguồn lực đầu vào sản xuất (nhất là nước và nhân công) của chúng ta còn quá rẻ so nhiều nước, nên các doanh nghiệp chưa nhận thức được tầm quan trọng của việc tăng hiệu quả sử dụng tài nguyên.

Rào cản thứ hai liên quan đến động lực của doanh nghiệp. Nhiều doanh nghiệp cho rằng bảo vệ môi trường là việc của Nhà nước. Tư tưởng trông chờ sự  hỗ trợ của Nhà nước trong các hoạt động bảo vệ môi trường, trong đó có áp dụng SXSH còn tương đối phổ biến. Các doanh nghiệp chưa thật sự hiểu hết lợi ích của SXSH đối với tính kinh tế của doanh nghiệp mà đơn thuần cho rằng SXSH cũng tương tự như việc xây dựng hệ thống xử lý chất thải, thường làm cho chi phí tăng thêm.

Về mặt kỹ thuật, nhiều cơ sở sản xuất của ta còn yếu về kiểm toán và hạch toán nội bộ nên không đo đếm được mức chi phí của mình mất đi theo chất thải. Do vậy không nhận thấy sự cần thiết của việc áp dụng SXSH để giảm chất thải đồng thời giảm chi phí sản xuất. Việc phổ biến SXSH thường dựa vào mạng lưới các nhà tư vấn nhưng ngay cả các chuyên gia tư vấn của nước ta cũng thiếu về số lượng và chất lượng, nhất là các chuyên gia SXSH chuyên ngành.

Loại hình rào cản từ trước đến nay chưa được chú ý nhiều đó là rào cản mang tính quản lý, bao gồm: văn hóa doanh nghiệp, sự phù hợp của SXSH đối với phương thức quản lý của Việt Nam, và  kỹ năng quản lý của các chủ doanh nghiệp. Một cuộc điều tra đối với bốn nhóm đại diện bao gồm nhóm chuyên gia tư vấn về SXSH, nhóm cán bộ quản lý nhà nước liên quan đến SXSH, nhóm doanh nghiệp đã áp dụng SXSH và nhóm doanh nghiệp chưa áp dụng SXSH để xác định đây có thật sự là rào cản và nếu là rào cản thì cần phải có những giải pháp gì để khắc phục đã được tiến hành. Kết quả điều tra cho thấy, để khắc phục được rào cản này, nhà quản lý cần phải kết hợp giải pháp tăng áp lực từ cơ quan quản lý, đồng thời tăng cường tuyên truyền về lợi ích của SXSH không chỉ trên phương diện môi trường mà quan trọng hơn đó là lợi ích kinh tế đối với doanh nghiệp khi áp dụng.

Nhận định về tính phù hợp của SXSH đối với phương thức quản lý của các doanh nghiệp Việt Nam, các chuyên gia cho rằng đây là một giải pháp có tính quy trình, hệ thống, chủ động và liên tục trong khi các doanh nghiệp Việt Nam quen với các giải pháp có tính nhiệm vụ, một lần, thiếu chủ động và ngắn hạn. Kết quả điều tra cho thấy nhận định trên phần nào có cơ sở, và để SXSH phù hợp với Việt Nam, các hướng dẫn kỹ thuật về SXSH cần được Việt Nam hóa như điều chỉnh thuật ngữ cho gần gũi hơn với ngôn ngữ điều hành sản xuất của doanh nghiệp; cách mô tả các bước thực hiện cần đơn giản hóa nhất là đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ.

Ðối với rào cản là kỹ năng quản lý của các doanh nghiệp, tỷ lệ lớn những người tham gia điều tra đồng ý đây là một rào cản lớn. SXSH là một công cụ quản lý, để áp dụng doanh nghiệp trước hết cần phải có hệ thống quản lý tối thiểu, mặt khác để thấy được lợi ích của SXSH, chủ doanh nghiệp cần thường xuyên cập nhật các dữ liệu sản xuất của mình. Do vậy việc nâng cao kỹ năng quản lý sản xuất nói chung cho các doanh nghiệp là rất cần thiết để giúp họ tiếp cận dễ dàng hơn với các phương thức quản lý mới trong đó có cả  SXSH.

NGUYỄN THỊ LÂM GIANG (Vụ KHCN, Bộ Công thương)

Có thể bạn quan tâm