Ngày 1-11, ngày làm việc thứ 13, kỳ họp thứ 10, QH khóa XI. Với sự chủ trì của Phó Chủ tịch QH Nguyễn Văn Yểu, các đại biểu đã nghe lãnh đạo các cơ quan Nhà nước báo cáo về tình hình khiếu nại, tố cáo (KNTC) của công dân và công tác giải quyết. Sau đó, các đại biểu đã thảo luận về các báo cáo nói trên.
Tình hình KNTC và kết quả giải quyết KNTC năm 2006
Báo cáo của Chính phủ về tình hình giải quyết KNTC năm 2006 do Tổng thanh tra Chính phủ Trần Văn Truyền trình bày cho biết, những tháng đầu năm 2006 tình hình KNTC trên địa bàn cả nước xuất hiện những diễn biến không bình thường.
Khiếu kiện nói chung tăng, đặc biệt khiếu kiện đông người, vượt cấp tăng cao. Nội dung các vụ, việc khiếu nại chủ yếu liên quan đất đai (chiếm 80%, có nơi 90%), một số vụ, việc liên quan nhà cửa, chính sách xã hội. Các đoàn khiếu kiện đông người, với nội dung chủ yếu liên quan việc đền bù, giải phóng mặt bằng khi Nhà nước thu hồi đất, do đất thu hồi giá đền bù thấp, khu tái định cư không bảo đảm, đời sống, việc làm khó khăn; không công bằng, bớt xén tiền đền bù, tham nhũng, tiêu cực, không công khai, thiếu dân chủ... Năm qua, cơ quan hành chính Nhà nước các cấp đã giải quyết được 64,3% số đơn khiếu nại và 66% số đơn tố cáo thuộc thẩm quyền.
Theo báo cáo của Chánh án Tòa án Nhân dân tối cao Nguyễn Văn Hiện, năm qua, số lượng các vụ, việc KNTC, đặc biệt là số lượng đơn đề nghị xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực của tòa án tăng hơn năm trước và tính chất vẫn còn phức tạp.
Nguyên nhân chủ yếu là do một số phán quyết của tòa án chưa đúng hoặc thiếu tính thuyết phục. Riêng đơn tố cáo đối với cán bộ, công chức tòa án đã giảm so với năm trước. Do thực hiện đồng bộ các giải pháp và sự chỉ đạo quyết liệt của lãnh đạo Tòa án Nhân dân tối cao về giải quyết đơn đề nghị giám đốc thẩm, tái thẩm, nên thời gian qua, công tác này của ngành tòa án tiếp tục có những chuyển biến tốt, Tòa án Nhân dân tối cao đã giải quyết được 73% số vụ.
Số đơn còn lại chủ yếu là các đơn mới được thụ lý trong thời gian gần đây, đang được xem xét, giải quyết theo quy định của pháp luật. Các tòa án nhân dân cấp tỉnh và các tòa án quân sự đã giải quyết được 95% số đơn đề nghị giám đốc thẩm, tái thẩm các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của tòa án nhân dân cấp huyện, số đơn còn lại không nhiều và đang được tiếp tục giải quyết.
Ðối với các vụ án mà có bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị giám đốc thẩm hoặc tái thẩm được đưa ra xét xử đúng thời hạn theo quy định. Cụ thể, Tòa án Nhân dân tối cao, Tòa án Quân sự T.Ư và các tòa án nhân dân cấp tỉnh đã xét xử được 91,4% số vụ án theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm (số lượng các vụ án này bao gồm cả các vụ án đã thụ lý trước đó và số vụ án do Viện Kiểm sát kháng nghị); trong đó, Tòa án Nhân dân tối cao xét xử đạt 90,4%.
Công tác giải quyết đơn thư tố cáo đối với cán bộ, công chức tòa án trong thời gian qua được thực hiện nghiêm túc, không để tồn đọng, kéo dài, các trường hợp cán bộ tòa án có sai phạm đều được xử lý nghiêm minh.
Báo cáo của Viện trưởng Kiểm sát nhân dân tối cao Hà Mạnh Trí cho biết, trong năm qua, việc KNTC của công dân vẫn diễn biến phức tạp, số lượng công dân trực tiếp đến KNTC và gửi đơn KNTC đến viện kiểm sát các cấp đều tăng đáng kể so với cùng kỳ năm 2005. Số công dân đến KNTC được viện kiểm sát nhân dân các cấp tiếp tăng 8,2% so với cùng kỳ năm 2005.
Viện kiểm sát nhân dân các cấp nhận được số đơn KNTC, tăng 11,8% so với cùng kỳ năm 2005. Số vụ, việc khiếu nại bức xúc, gây mất trật tự ở nơi tiếp công dân có chiều hướng gia tăng. Qua nghiên cứu các đơn KNTC gửi đến viện kiểm sát nhân dân các cấp thấy nổi lên một số điểm đáng chú ý là: Các đơn KNTC trong lĩnh vực hành chính chủ yếu vẫn là về đền bù giải phóng mặt bằng, tranh chấp đất đai, nhà cửa thuộc thẩm quyền giải quyết của các cơ quan quản lý nhà nước.
Các KNTC về tư pháp mà viện kiểm sát các cấp thụ lý, giải quyết phần lớn là khiếu nại đối với các bản án hình sự, dân sự, hành chính, kinh tế đã có hiệu lực pháp luật, số này chiếm 73,7%.
Viện kiểm sát các cấp đã giải quyết được 74,5% số vụ, việc thụ lý giải quyết, tăng 4,5% so với cùng kỳ năm trước. Riêng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao giải quyết được 49,4% số vụ, việc thụ lý giải quyết.
Báo cáo của Viện trưởng Kiểm sát nhân dân tối cao còn đề cập việc tiếp nhận, giải quyết tin báo, tố giác về các tội phạm xâm phạm hoạt động tư pháp do cán bộ thuộc các cơ quan tư pháp thực hiện; việc giải quyết KNTC về thi hành án; KNTC đối với cán bộ kiểm sát.
Thẩm tra các báo cáo của Chính phủ, Tòa án Nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao về tình hình giải quyết KNTC của công dân, nhiều thành viên Ủy ban pháp luật của QH cho rằng, các báo cáo của Chính phủ, Tòa án Nhân dân tối cao và Viện Kiểm sát nhân dân tối cao về công tác giải quyết KNTC năm 2006 đã được chuẩn bị kỹ hơn so với các năm trước; đã phản ánh khái quát tình hình KNTC của công dân và công tác giải quyết KNTC của Chính phủ, chính quyền địa phương và của tòa án Nhân dân, viện kiểm sát nhân dân các cấp trong năm 2006; nêu những mặt đã làm được và chưa làm được trong công tác này. Các báo cáo cũng đã đánh giá và phân tích về những nguyên nhân và đề ra một số chủ trương, biện pháp cụ thể trong việc giải quyết KNTC.
Qua thảo luận, các ý kiến phát biểu của đại biểu QH cơ bản nhất trí với các báo cáo nói trên về đánh giá tình hình KNTC và kết quả giải quyết của các cơ quan Nhà nước. Tuy nhiên, nhiều ý kiến đặt vấn đề: Tại sao trong năm qua, KNTC lại gia tăng, nhất là những tháng đầu năm 2006? Vì vậy, đề nghị cần phân tích sâu sắc các nguyên nhân phát sinh (Nguyễn Thị Vân Lan-Ðà Nẵng, Dương Thu Hương-Hà Nam, Ngô Thị Minh-Quảng Ninh).
Nguyên nhân làm phát sinh KNTC và hạn chế trong công tác giải quyết KNTC
Thời gian qua, tình hình khiếu kiện tăng, tính chất ngày càng gay gắt, phức tạp, nhất là những vụ, việc đông người liên quan thu hồi đất cho xây dựng khu đô thị, khu công nghiệp và việc đòi lại đất diễn ra rất gay gắt, quyết liệt. Trong khi đó, việc giải quyết các khiếu kiện đông người của UBND các cấp chuyển biến còn chậm. Tình hình đó có nguyên nhân: Về khách quan, do nhu cầu phát triển kinh tế, xã hội trong thời kỳ đẩy mạnh sự nghiệp CNH, HÐH, các tỉnh, thành phố đang đẩy nhanh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển công nghiệp, dịch vụ, xây dựng chỉnh trang đô thị, nhu cầu về thu hồi đất phục vụ phát triển trong thời gian ngắn tăng cao đã ảnh hưởng trực tiếp một bộ phận không nhỏ dân cư cả về đời sống và việc làm.
Do cơ chế chính sách, nhất là chính sách trong thực hiện giải tỏa, đền bù thu hồi đất cho các dự án, công trình trong thời gian từ khi có Luật Ðất đai năm 2003 đến nay, thay đổi về giá cả đền bù, chính sách hỗ trợ cho nên một số dự án đang thực hiện cơ chế cũ, do phải triển khai thực hiện trong nhiều năm, công dân đòi được áp dụng những quy định mới.
Do một số tồn tại trong quá trình thực hiện chính sách đất đai trước đây chưa được giải quyết dứt điểm (đất tập đoàn, đất nông trường, đất lâm trường...).
Về chủ quan: Việc chấp hành các quy định của Luật Khiếu nại, tố cáo về trình tự, thủ tục, nhất là việc chấp hành quy định về đối thoại khi giải quyết khiếu nại chưa nghiêm. Khi dân khiếu nại, quá trình giải quyết của các cấp thẩm quyền còn chậm; một số nội dung còn có ý kiến khác nhau nhưng chưa được xác minh đầy đủ, hoặc chứng cứ kết luận thiếu chặt chẽ, cho nên khi ban hành quyết định, người dân không đồng tình, tiếp tục đi khiếu kiện.
Khi phát sinh KNTC, chính quyền một số địa phương chưa thấy hết trách nhiệm của mình trong việc tiếp nhận và giải quyết kịp thời các khiếu tố của dân từ cơ sở, nhiều vụ, việc đã có quyết định giải quyết nhưng việc tổ chức thực hiện, xử lý các sai phạm không dứt điểm, thiếu kiểm tra, đôn đốc kịp thời, tạo ra bức xúc bất bình, giảm lòng tin trong nhân dân, gây ra khiếu kiện kéo dài với thái độ gay gắt.
Trong năm qua, công tác giải quyết KNTC trong ngành tòa án còn một số thiếu sót, bất cập là, việc xem xét, giải quyết đơn yêu cầu giám đốc thẩm, tái thẩm vẫn còn để xảy ra một số vụ việc có khiếu nại bức xúc, kéo dài.
Việc trả lời đơn trong một số trường hợp còn chưa chính xác, lập luận chưa thuyết phục, thậm chí còn có trường hợp các tòa chuyên trách đã trả lời là không có căn cứ kháng nghị, nhưng sau đó lại phát hiện có vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong các bản án, quyết định của tòa án, cho nên các bản án này đã bị Chánh án Tòa án nhân dân tối cao kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm để giải quyết lại theo quy định của pháp luật.
Việc phân loại đơn và phối hợp giữa các đơn vị chức năng trong việc giải quyết đơn vừa có nội dung khiếu nại, vừa có nội dung tố cáo thực hiện chưa tốt, dẫn đến việc giải quyết vụ, việc của đương sự chưa toàn diện hoặc kéo dài.
Việc tổ chức tiếp dân chưa thật sự hợp lý và khoa học, chưa gắn việc tiếp dân với việc giải quyết các nội dung, yêu cầu KNTC của công dân.
Trong một số trường hợp việc xử lý cán bộ, công chức tòa án có vi phạm chưa nghiêm cho nên đã hạn chế tính giáo dục và phòng, ngừa vi phạm trong ngành Tòa án nhân dân.
Lãnh đạo một số đơn vị chưa quán triệt đầy đủ và thật sự coi trọng công tác giải quyết KNTC cho nên chưa quan tâm, bố trí đủ cán bộ, phương tiện làm việc cần thiết để thực hiện tốt công tác này.
Báo cáo của Viện trưởng Kiểm sát nhân dân tối cao cũng đã nêu ra những bất cập và nguyên nhân của những bất cập đó. Qua thảo luận, các đại biểu QH, một mặt đồng tình với những nguyên nhân mà các báo cáo đã nêu và mặt khác đã chỉ ra nhiều nguyên nhân khác của tình hình KNTC trong năm qua.
Theo đại biểu Nguyễn Thị Vân Lan (Ðà Nẵng), nguyên nhân còn do người giải quyết KNTC chưa nghiên cứu kỹ nội dung KNTC và chỉ nghe cán bộ, chuyên viên dưới quyền báo cáo, trong khi đó, có cán bộ, chuyên viên thoái hóa, biến chất dẫn đến dân không đồng tình.
Ðại biểu Ngô Thị Minh (Quảng Ninh) nhấn mạnh, còn do thái độ quan liêu, hách dịch của cán bộ giải quyết KNTC, do động cơ vụ lợi của cá nhân. Bên cạnh đó, chính sách của Chính phủ về đền bù giải phóng mặt bằng có những bất cập.
Ðại biểu Dương Thu Hương (Hà Nam) bổ sung: Việc giải quyết ở cơ sở còn có chỗ chưa công bằng, không minh bạch, có nhiều biểu hiện tham nhũng trong việc giải quyết. Một số cơ quan có thẩm quyền giải quyết không dứt khoát, vòng vo.
Ðại biểu Nguyễn Minh Thuyết (Lạng Sơn) cho rằng người dân hay khiếu nại, tố cáo vượt cấp lên các cơ quan ở T.Ư, bởi gặp được lãnh đạo cấp cao, việc của họ sẽ được giải quyết nhanh hơn.
Ðại biểu H'Luộc Ntơr (Ðác Lắc) lưu ý một khía cạnh khác khiến cho việc giải quyết KNTC của dân bị chậm, có lúc sai, một phần do bố trí cán bộ làm công việc này chưa đúng, một số địa phương còn đưa cán bộ mắc khuyết điểm bị kỷ luật ở nơi khác về làm công tác quan trọng này.
Giải pháp để hạn chế nguồn gốc phát sinh KNTC
Các báo cáo của Chính phủ, Tòa án Nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao đã đề ra nhiều giải pháp nhằm hạn chế nguồn gốc phát sinh KNTC và khi xảy ra KNTC thì giải quyết dứt điểm. Qua thảo luận, các ý kiến phát biểu cơ bản đồng tình với các giải pháp đó, đồng thời kiến nghị nhiều giải pháp khác để công tác này đạt hiệu quả hơn.
Ðại biểu Nguyễn Thị Vân Lan (Ðà Nẵng) đề nghị cơ quan có thẩm quyền ở T.Ư, nếu phân loại thấy đơn thư nào đã được giải quyết đúng thì trả lời dứt khóat cho người có đơn, nếu thấy có sai thì chỉ đạo giải quyết dứt điểm. Người đứng đầu chính quyền phải trực tiếp chỉ đạo việc này.
Ðại biểu này cũng đề nghị Chính phủ cho rà soát lại tất cả các dự án đã phê duyệt nhưng chưa làm, để chấn chỉnh, khắc phục tình trạng quy hoạch treo. Tăng cường bộ máy tiếp công dân, thành lập Ủy ban dân nguyện của QH. Ðoàn đại biểu QH và đại biểu QH, HÐND các cấp cần tăng cường giám sát việc tổ chức tiếp công dân, giải quyết KNTC của công dân. Cả hệ thống chính trị phải vào cuộc và đeo bám đến cùng.
Ðại biểu Ngô Thị Minh (Quảng Ninh) đề nghị Chính phủ cho rà soát lại việc sử dụng nhà công vụ, trước hết ở T.Ư, tránh tình trạng biến nhà công thành nhà tư và công khai trước công luận. Ðại biểu Dương Thu Hương (Hà Nam) cho rằng, cần chỉ đạo kiên quyết việc thực hiện Luật Phòng, chống tham nhũng, công khai quy hoạch sử dụng đất, thực hiện nghiêm túc việc đối thoại trực tiếp với dân. Nâng cao vai trò của QH, các cơ quan của QH trong việc giám sát giải quyết KNTC của công dân, xử lý nghiêm cán bộ thiếu trách nhiệm.
Ðại biểu Trần Ðình Ðàn (Hà Tĩnh) phân tích từ thực tiễn giải quyết KNTC ở địa phương, cho rằng có ba loại đối tượng đi KNTC là: Do không hiểu luật, do có lợi ích trực tiếp, và một số bị xúi giục. Vì vậy, khi giải quyết KNTC, yêu cầu đối với địa phương, cán bộ phải rõ đối tượng, từ đó có cách xử lý phù hợp, đúng pháp luật.
Ðại biểu này đề nghị, phải có chế tài đủ mạnh xử lý những cán bộ "cố tình giải quyết không đúng sự việc, dẫn đến người dân khiếu nại vượt cấp kéo dài. Ðại biểu Lâm Văn Kỷ (Sóc Trăng) nhấn mạnh cần thực hiện dân chủ hơn nữa việc giải quyết KNTC, trước hết từ trong nội bộ cơ quan Nhà nước và của công dân, lãnh đạo phải tăng cường tiếp xúc, đối thoại với dân, đại biểu QH và HÐND cần đẩy mạnh hoạt động giám sát và nâng cao chất lượng, hiệu quả của việc giám sát.
Ðại biểu Hoàng Văn Minh (Nghệ An) nhận xét bộ máy công quyền và một bộ phận cán bộ làm công tác giải quyết KNTC có yếu kém, dẫn đến giải quyết KNTC kém hiệu quả, phải kéo dài.
Ðại biểu Nguyễn Thị Hồng Xinh (Bà Rịa-Vũng Tàu) đề nghị Chính phủ phải đưa ra "mốc" thời gian cụ thể để giải quyết dứt điểm các KNTC, nhất là trong lĩnh vực đất đai.