Thực hiện Nghị quyết 15 của T.Ư Ðảng (khóa II), cùng với việc đẩy mạnh xây dựng quân đội chính quy, hiện đại trên miền bắc, việc chuẩn bị lực lượng con người và vật chất để chi viện cho chiến trường miền nam được đặt ra cấp bách và vấn đề "mở con đường đặc biệt" trở thành nhiệm vụ đặc biệt quan trọng. Ngày 19-5-1959, đúng dịp sinh nhật Bác Hồ lần thứ 69, con đường có sứ mệnh cao cả nhất trong lịch sử dân tộc chính thức khai mở và vinh dự mang tên Chủ tịch Hồ Chí Minh. Và cũng từ đây, quân và dân Quảng Bình nhận lãnh trọng trách to lớn trước toàn Ðảng, toàn dân, đặc biệt là trước đồng bào, đồng chí miền nam là huy động tối đa sức người, sức của để tham gia khai thông và bảo đảm tuyến vận tải chi viện cho chiến trường miền nam.
Ðể đáp ứng nhu cầu chiến trường, vượt lên sự đánh phá, ngăn chặn của kẻ thù, đường Hồ Chí Minh vẫn ngày càng được mở rộng, vươn dài. Hà Tĩnh, Quảng Bình, Vĩnh Linh, về sau có thêm khu vực Ðường 9 Quảng Trị trở thành trung tâm xuất phát của công cuộc chi viện cho chiến trường miền nam, đồng thời cũng là căn cứ chiến lược cho chiến trường Trường Sơn mà Quảng Bình là tâm điểm.
Trên địa bàn Quảng Bình, đường Hồ Chí Minh được hình thành một tuyến dọc và bốn tuyến ngang. Tuyến dọc là đường 15A song song với quốc lộ 1A qua địa phận Quảng Bình từ Tân Ðức (Tuyên Hóa) đến Khe Gát (Bố Trạch). Từ Khe Gát, đường tiếp tục chia ra hai nhánh: phía tây từ Khe Gát vào đến dốc Dân Chủ (Làng Ho, Lệ Thủy), phía đông từ Khe Gát vào đến Bến Quan (Vĩnh Linh). Bốn tuyến ngang gồm: đường 12A từ Khe Ve vượt dãy Trường Sơn đến đèo Mụ Dạ; đường 20 Quyết Thắng từ Sơn Trạch (Bố Trạch) đến Ta Lê trên biên giới Việt - Lào; đường 16 từ ngã ba Thạch Bàn trên đường 15 lên Vít Thù Lù - Làng Ho; và đường 10, còn gọi là đường 20-7 từ Áng Sơn đến ngã ba Dân Chủ. Các tuyến đường ngang có nhiệm vụ "lật cánh" sang tây Trường Sơn và liên kết nhau tạo thành một mạng lưới giao thông phù hợp địa thế, địa hình tự nhiên và luôn luôn giữ thế chủ động để đối phó với mọi thủ đoạn đánh phá, chia cắt, ngăn chặn của kẻ thù. Hỗ trợ và kết nối với mạng lưới đường bộ là các tuyến đường sông như Kiến Giang, sông Gianh, các tuyến đường biển vào vịnh Hòn La, cảng Nhật Lệ, cảng Sông Gianh, hoặc sân bay chiến đấu Khe Gát, sân bay dân dụng Ðồng Hới... tạo thế liên hoàn, thuận lợi cho nhiệm vụ vận tải, chi viện chiến trường.
Nhận biết ý nghĩa vô cùng quan trọng của tuyến đường Hồ Chí Minh đối với cuộc chiến đấu của đồng bào, đồng chí ta ở miền nam, kẻ thù điên cuồng dốc lực ngăn chặn, đánh phá. Quảng Bình trở thành "túi" bom đạn khổng lồ với hàng triệu tấn bom, đạn các loại, cùng những tọa độ vô cùng ác liệt như Khe Ve, ngầm Rin, bến phà Xuân Sơn, đèo Mụ Dạ, bến phà Long Ðại, ngã ba Dân Chủ... Biết bao mất mát, thương đau mà đạn bom thù đã gây ra cho người Quảng Bình. Nhưng với quyết tâm: "Tất cả vì miền nam ruột thịt!", đồng bào, đồng chí Quảng Bình đã vượt qua mọi hy sinh, gian khổ, sát cánh cùng Bộ đội Trường Sơn liên tục 12 năm bảo đảm cho tuyến đường luôn thông suốt. Nghị quyết của Tỉnh ủy Quảng Bình ngày 7-12-1967, xác định rõ: Chi viện cao nhất cho miền nam là nhiệm vụ hàng đầu, bảo đảm giao thông vận tải thông suốt là nhiệm vụ trung tâm dù bất cứ hy sinh nào và trong hoàn cảnh nào.
Có thể nói cả Quảng Bình ngày ấy là một đại công trường giao thông, một đại trận địa bảo vệ vận tải, một đại thao trường huấn luyện chiến sĩ mới, một đại tổng kho hàng hóa chiến lược, một đại mạng lưới quân - dân y cứu chữa thương, bệnh binh... Ban bảo đảm giao thông vận tải được thành lập từ tỉnh xuống đến tận thôn, xã và cả Quảng Bình bừng bừng khí thế toàn dân bảo vệ cầu, đường, từng khúc sông, bến cảng và hàng hóa. Quảng Bình vốn là một tỉnh nghèo, chiến tranh khốc liệt khiến cuộc sống đồng bào càng khó khăn hơn, nhưng dù phải ăn khoai sắn thay cơm, người Quảng Bình vẫn một lòng phục vụ kháng chiến, với niềm tin son sắt: "Nhà tan cửa nát cũng ừ. Ðánh thắng giặc Mỹ, cực chừ sướng sau". Tất cả nhà dân, đình chùa, miếu vũ, kể cả từng bụi cây, từng mét hào đều là nơi cất giữ hàng hóa chiến lược và mỗi người dân đều là một chiến sĩ phục vụ vận tải và bảo vệ huyết mạch giao thông. Những tấm gương như em bé Bảo Ninh bên bờ Nhật Lệ vác đạn tiếp tế, hay mẹ Suốt chèo đò đưa bộ đội qua sông; những pháo thủ trước khi hy sinh vẫn hô vang "Nhằm thẳng quân thù mà bắn" như Nguyễn Viết Xuân hay bất chấp bom đạn quyết bám mặt đường như cô TNXP Nguyễn Thị Kim Huế, rồi hàng trăm hàng nghìn người nữa như hoa rộ nở trên lũy thép bất chấp bom đạn. Quyết tâm tất cả vì miền nam ruột thịt đã trở thành lẽ sống của đồng bào, đồng chí Quảng Bình, như những câu nói nằm lòng: "Cho không lấy, thấy không xin, của công giữ gìn, của rơi trả lại", hay "Xe chưa qua, nhà không tiếc. Ðường chưa thông không tiếc máu xương", "Sống bám cầu đường, chết kiên cường dũng cảm". Rồi "Xe tăng một chuyến vòng quay, miền nam đỡ bớt một ngày đau thương"...
Có thể nói, biểu hiện của cuộc chiến tranh nhân dân trên lĩnh vực bảo đảm hậu cần ở Quảng Bình trong những năm chống Mỹ, cứu nước thật sinh động và độc đáo. Dưới mưa bom bão đạn, bao khúc đường, bao cầu, cống, bến phà bị bom phá hủy, tưởng chừng không một cân hàng nào có thể qua "tọa độ lửa", nhưng với quyết tâm không để chiến trường một ngày thiếu đạn, quân dân Quảng Bình đã triển khai các hình thức vận tải hết sức độc đáo mà hiệu quả. Ví như kéo bè chở hàng dọc sông, kể cả xăng dầu, lên tận Trường Sơn. Rồi lợi dụng sức gió mùa đông bắc để thả gạo "bốn bao" từ biển vào bờ tránh thủy lôi địch, rồi từ bờ lên Trường Sơn. Hoặc mở chiến dịch tập trung vận chuyển khối lượng lớn cho chiến trường bằng tất cả phương tiện, từ ô-tô, xe bò, xe cút kít hay gùi, cõng, v.v. Dù địch đánh phá ngày càng ác liệt nhưng lượng hàng hóa luôn tăng năm sau cao hơn năm trước. Năm 1968, số lần địch đánh phá tăng 15 lần so với năm 1965, nhưng lượng hàng hóa vượt qua Quảng Bình vào nam cũng tăng gấp ba lần năm 1966. Riêng chiến dịch vận tải VT5 cuối năm 1968, trong vòng ba tháng tỉnh Quảng Bình huy động lực lượng vận chuyển hơn 130 nghìn tấn hàng hóa vào chiến trường, vượt kế hoạch hơn 10 nghìn tấn. Trong ba năm từ 1973 đến 1975 hơn một triệu tấn hàng hóa đã được quân dân Quảng Bình vận chuyển an toàn vào chiến trường. Với những thành tích xuất sắc, ngay từ những năm đầu của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước trên miền bắc, Bác Hồ đã gửi thư khen quân dân Quảng Bình chiến đấu giỏi, sản xuất giỏi, và tấm gương "Hai giỏi" của đất lửa Quảng Bình đã trở thành một biểu tượng, một tấm gương ngời sáng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng được đồng chí, đồng bào cả nước học tập, noi theo.
Kết thúc cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, ghi nhận những đóng góp to lớn của quân và dân Quảng Bình, Nhà nước đã phong tặng danh hiệu Anh hùng LLVTND cho 93 tập thể, 30 cá nhân, 278 Bà mẹ Việt Nam Anh hùng.
50 năm đã trôi qua, nhưng những chiến công của quân, dân Quảng Bình cùng Bộ đội Trường Sơn, TNXP và dân công các tỉnh bạn trong sự nghiệp "xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước" là bản anh hùng ca ngân vọng mãi trong lịch sử dân tộc, là niềm tự hào của các thế hệ người Việt Nam mai sau, là nguồn di sản thiêng liêng để mỗi một đồng chí, đồng bào chúng ta hôm nay soi mình và vững tin trên con đường xây dựng cuộc sống mới.
Ðã gần 35 năm cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước thắng lợi, nhất là sau hơn 20 năm tái lập lại tỉnh Quảng Bình, những vùng "tọa độ lửa" khốc liệt trong hệ thống đường Hồ Chí Minh năm xưa đã đổi thay nhiều. Sự sống đã hồi sinh mãnh liệt. Huyền thoại về con đường cứu nước ngày ấy, nay đang được viết tiếp bằng con đường Hồ Chí Minh công nghiệp hóa với những chương trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội đã và đang nỗ lực xóa đi những di chứng của chiến tranh và đói nghèo ở các huyện Tuyên Hóa, Minh Hóa, Quảng Trạch, Bố Trạch, Lệ Thủy, Quảng Ninh và thành phố Ðồng Hới. Những cung đường trong hệ thống đường Hồ Chí Minh lịch sử, giờ đây tiếp tục phát huy vai trò chiến lược trong sự nghiệp xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội.
Truyền thống vẻ vang của Ðảng bộ và nhân dân Quảng Bình tiếp tục được phát huy mạnh mẽ. Nghị quyết Ðại hội Ðảng bộ tỉnh lần thứ 14 (nhiệm kỳ 2005-2010) nêu quyết tâm đưa Quảng Bình ra khỏi tình trạng một tỉnh nghèo, phấn đấu đến năm 2010 cơ bản đạt trình độ phát triển ngang mức bình quân chung của cả nước. Ðể đạt được mục tiêu này, những năm vừa qua, Ðảng bộ và nhân dân Quảng Bình đã đồng lòng, chung sức vượt qua khó khăn, khai thác lợi thế và tiềm năng với những chương trình, kế hoạch phù hợp, sát đúng, mang lại hiệu quả thiết thực. Nổi bật là quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH, HÐH, tăng tỷ trọng công nghiệp, dịch vụ và giảm nông nghiệp. Theo đó, tỷ trọng các ngành nông, lâm, ngư nghiệp giảm từ 29,7% năm 2005 xuống 24,1% năm 2008, ngành công nghiệp - xây dựng tăng từ 32,1% năm 2005 lên 37,1% năm 2008 và ngành dịch vụ tăng từ 38,2% năm 2005 lên 38,8% năm 2008. Tốc độ tăng trưởng kinh tế hằng năm đều tăng đạt kế hoạch đề ra, năm 2008 đạt 12%. Tỷ lệ hộ nghèo mỗi năm giảm khoảng 4%. Hệ thống cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội được đầu tư ngày càng đồng bộ, bộ mặt nông thôn, thành thị ngày càng khang trang, đời sống nhân dân, nhất là đồng bào ở vùng sâu, vùng xa, miền núi, miền biển được cải thiện cơ bản.
Năm 2009, suy thoái kinh tế toàn cầu cũng như những khó khăn khác đã tác động không nhỏ đến kinh tế - xã hội Quảng Bình. Nhưng với tinh thần cách mạng và truyền thống của quê hương "Hai giỏi", của "đường Hồ Chí Minh huyền thoại", chắc chắn Ðảng bộ và nhân dân Quảng Bình sẽ nỗ lực vượt qua và đạt được những thành tích xuất sắc. Ðể khắc phục khó khăn, thực hiện thắng lợi Nghị quyết Ðại hội Ðảng bộ tỉnh lần thứ 14, Ðảng bộ các cấp cần rà soát lại và lựa chọn những vấn đề trọng tâm, trọng điểm, những khâu còn vướng mắc, yếu kém để chỉ đạo tháo gỡ, giải quyết một cách tập trung các chỉ tiêu đạt thấp hoặc khó có khả năng đạt, nhất là với các chương trình kinh tế trọng điểm. Tiếp tục tạo chuyển biến mạnh mẽ trong phát triển nông, lâm, ngư theo hướng sản xuất hàng hóa. Chỉ đạo quyết liệt thực hiện hai chương trình phát triển thủy sản và chăn nuôi.
Tập trung phát triển công nghiệp, để công nghiệp thật sự đóng vai trò đòn bẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nhanh hơn. Chú ý các dự án trọng điểm công nghiệp như các nhà máy xi-măng, Nhà máy nhiệt điện Quảng Trạch với công suất 2.400 MW, các nhà máy chế biến nông, lâm, thủy sản. Tích cực kêu gọi đầu tư và thực hiện xã hội hóa đầu tư trong phát triển du lịch, dịch vụ theo hướng đa ngành để du lịch thật sự trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn mang tính đột phá.
Huy động tối đa và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực phát triển kinh tế - xã hội. Tiếp tục quán triệt, tổ chức thực hiện chương trình hành động về cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh và phát triển nguồn nhân lực. Thu hút đầu tư phát triển công nghiệp, thương mại, dịch vụ, du lịch và xuất khẩu, khai thác nguồn lực đất đai cho đầu tư phát triển hạ tầng và đô thị, kêu gọi đầu tư vào các khu du lịch trọng điểm như các khu du lịch Phong Nha - Kẻ Bàng, Bảo Ninh - Ðồng Hới, Vũng Chùa - Ðảo Yến, Bang, Ðá Nhảy... và các khu kinh tế quan trọng như Hòn La, các cảng biển, cửa khẩu quốc tế Cha Lo, sân bay Ðồng Hới,...
Cùng với đó là đẩy mạnh công tác chính trị, tư tưởng trong toàn Ðảng bộ, toàn dân nhất là thế hệ trẻ, khơi dậy truyền thống yêu nước, yêu quê hương, tạo sự đoàn kết thống nhất cao về ý chí và hành động trong cán bộ, đảng viên, sự đồng thuận cao trong nhân dân, giữ vững ổn định chính trị. Tiếp tục chỉ đạo và tổ chức thực hiện các bước tiếp theo của Cuộc vận động "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh", gắn với thực hiện các phong trào thi đua yêu nước, thực hiện nhiệm vụ chính trị và đấu tranh ngăn chặn các biểu hiện tiêu cực, tham nhũng, lãng phí, sa sút về phẩm chất, đạo đức, lối sống, phai nhạt lý tưởng và cơ hội chủ nghĩa.
Kỷ niệm 50 năm ngày mở đường Trường Sơn là dịp để mỗi một cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân Quảng Bình ôn lại những năm tháng hào hùng của quê hương, trong đó có mỗi gia đình, mỗi người thân yêu của mình đã cống hiến và hy sinh cho sự nghiệp giải phóng dân tộc. Tự hào với những chiến công oai hùng của thế hệ cha anh, mỗi một chúng ta cần nỗ lực vươn lên, phấn đấu hơn nữa để xây dựng quê hương, đất nước chúng ta bằng nhân lên tinh thần "xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước" năm xưa.