Quản lý khâu tạm ứng vốn xây dựng cơ bản

ND - Theo Bộ Giao thông vận tải, tính đến hết tháng 9-2009, toàn ngành thực hiện giải ngân các nguồn vốn đầu tư xây dựng cơ bản (XDCB) tập trung gần 10.500 tỷ đồng; trong đó, nguồn vốn trái phiếu Chính phủ hơn sáu nghìn tỷ đồng (cùng kỳ năm trước chỉ đạt hơn 4.500 tỷ đồng), nguồn vốn ngân sách Nhà nước 3.300 tỷ đồng (cùng kỳ đạt hơn 1.600 tỷ đồng).

Kết quả này xác lập kỷ lục mới về giải ngân vốn XDCB trong ngành giao thông vận tải. Ðến thời điểm này, toàn ngành đã gần đạt kế hoạch giải ngân đăng ký của các dự án đầu tư XDCB với Chính phủ.

Khối lượng giải ngân cao nhưng đằng sau vẫn còn những băn khoăn của nhiều chủ đầu tư và cơ quan quản lý vốn. Lý do: một số thay đổi về cơ chế đầu tư XDCB mới được ban hành trong quý III vừa qua, chưa tác động nhiều đến các dự án giao thông. Tiến độ giải ngân các dự án giao thông liên quan chặt chẽ các khoản tạm ứng hợp đồng và tạm ứng vật liệu. Theo quy định hiện hành, cơ chế tạm ứng vốn rất "thoáng", chỉ quy định mức tạm ứng tối thiểu, không khống chế mức tạm ứng tối đa, nhiều chủ đầu tư chủ động tạo điều kiện và linh hoạt cho nhà thầu tạm ứng vốn theo hợp đồng. Có nhà thầu được tạm ứng từ 15% đến 40% giá trị hợp đồng. Thậm chí một số ban quản lý dự án đã "mạnh tay" tạm ứng tới 80% giá trị vật liệu theo đơn giá trúng thầu hoặc giá hóa đơn. Việc lạm dụng cơ chế tạm ứng đã khiến chất lượng giải ngân thấp. Số tiền giải ngân cao, nhưng chưa hẳn vốn của Nhà nước đã được đưa vào công trình, chưa tạo ra được sản phẩm cho xã hội mà nằm trong tài khoản của nhà thầu, hoặc được chuyển cho công trình khác. Nhiều trường hợp tiến độ thi công, nghiệm thu thanh toán chưa tương xứng  vốn tạm ứng.

Tăng mức tạm ứng cho nhà thầu tại các hợp đồng xây lắp là chủ trương đúng đắn nhằm tạo điều kiện tháo gỡ khó khăn về mặt tài chính cho các nhà thầu đẩy nhanh tiến độ thi công, đáp ứng tiến độ giải ngân chung của toàn ngành. Nhưng mặt khác, nếu để tỷ lệ tạm ứng quá cao lại gia tăng sức ép đối với các chủ đầu tư và cơ quan quản lý vốn. Các chủ đầu tư đứng trước nguy cơ khó thu hồi tiền tạm ứng trong trường hợp một số nhà thầu đã trúng thầu, ký hợp đồng và nhận tiền tạm ứng nhưng không triển khai thi công, chủ đầu tư phải làm thủ tục thay nhà thầu mới. Mặt khác, tạm ứng vốn và tạm ứng vật liệu cao còn dẫn đến các nhà thầu trì hoãn, kéo dài thời gian hoàn thiện các thủ tục nghiệm thu thanh toán khối lượng hoàn thành. Trước tình hình này, các chủ đầu tư, ban quản lý dự án cần rà soát lại toàn bộ công tác tạm ứng vốn theo hợp đồng và tạm ứng vật liệu. Trước khi cho tạm ứng yêu cầu nhà thầu cung cấp bảo lãnh tiền tạm ứng để bảo đảm thu hồi được tiền tạm ứng trong trường hợp rủi ro, đồng thời hạn chế tạm ứng vật liệu theo hợp đồng.

Qua theo dõi số liệu thanh toán khối lượng hoàn thành và lượng vốn tạm ứng cho thấy công tác nghiệm thu chưa đáp ứng yêu cầu, tiền tạm ứng lớn nhưng khối lượng thi công hoàn thành đủ thủ tục thanh toán chưa tương xứng, việc xử lý thu hồi rất phức tạp, nhất là đối với nguồn vốn trái phiếu Chính phủ.

MINH TRANG

Có thể bạn quan tâm