Quả lựu làm thuốc

Lựu có nhiều giống: Giống có hoa đỏ (phổ biến), giống hoa trắng (bạch lựu) và giống hoa vàng (hiếm gặp). Hoa lựu to và đẹp là cây cảnh được ưa chuộng. Quả lựu ăn ngon và ngọt, rất hấp dẫn đối với phụ nữ và trẻ em.Về mặt y học, cây lựu cung cấp nhiều bộ phận dùng làm thuốc.

Rễ và thân cành: Rễ được dùng phổ biến hơn. Chỉ dùng vỏ. Vỏ chứa tanin với tỷ lệ 28% ở rễ, 10-25% ở thân cành, các alcaloid pelletierin, isopelletierin... Những alcaloid này chính là hoạt chất có tác dụng chứa sán.

Thường dùng dạng vỏ rễ hoặc vỏ thân lựu, vì trong vỏ, hoạt chất tác dụng kết hợp với tanin thành một chất không tan trong dịch ruột, có hiệu lực cao đối với sán, lại ít độc với cơ thể người. Dùng vỏ mới thu hoạch vì vỏ tươi chứa nhiều hoạt chất. Lấy 30-40g vỏ cắt nhỏ, ngâm vào 750ml nước trong 6 giờ, sắc lấy 500ml. Lọc bỏ bã. Uống vào buổi sáng lúc đói, chia làm 2-3 lần cách nhau nửa giờ. Hai giờ sau khi uống thuốc, dùng một liều thuốc tẩy magie sulfat (không dùng dầu thầu dầu, có thể bị ngộ độc). Nằm nghỉ. Đợi lúc buồn đi ngoài, ngồi nhúng hẳn mông vào chậu nước ấm để sán ra hết. Phụ nữ có thai và trẻ em không được dùng.

Vỏ rễ và vỏ thân lựu còn được dùng làm thuốc ngậm chữa đau răng. Vỏ thân lựu phối hợp với vỏ rễ dâu, mỗi thứ 20g sắc uống chữa đái són, đái nhắt (Nam dược thần hiệu).

Hoa: Hoa lựu (50g), rau sam (50g), nhọ nồi (30g), rau má (30g), kim ngân hoa (30g), rễ cúc áo hoa vàng (10g). Tất cả dùng tươi, rửa sạch, cắt nhỏ, nấu với 2 - 3 lần nước, rồi cô thành cao lỏng, trộn với si rô với tỷ lệ 1/1. Trẻ em 5 - 10 tuổi, mỗi lần uống 1 - 2 thìa cà phê, trên 10 tuổi, 2 - 3 thìa. Người lớn: mỗi lần uống 4 - 6 thìa cà-phê. Ngày dùng hai lần. Chữa kiết lỵ, tiêu chảy ra máu. Theo tài liệu nước ngoài, hoa lựu giã nát trộn với dầu vừng bôi chữa bỏng.

Quả: Vỏ quả lựu chứa 26 - 28% tanin, có vị chua, chát, tính ôn, có tác dụng làm săn, cầm máu và sát khuẩn, chữa tiêu chảy lâu ngày không khỏi. Ngày dùng l5-20g sắc với 400ml nước còn 100ml, thêm đường và chất thơm uống làm một lần trong ngày. Dùng 7 - 10 ngày. Có thể pha chế thành dung dịch để bảo quản được lâu. Cách làm cụ thể như sau:

Vỏ quả lựu (200g), rửa sạch, cạo bỏ màng trong, cắt nhỏ cho vào nồi nhôm hay nồi đất với một lít nước. Đun sôi trong nửa giờ. Gạn nước, thêm nửa lít nước nữa, tiếp tục đun sôi trong nửa giờ. Lọc, gộp hai nước lại, cô còn nửa lít. Thêm đường và chất thơm. Người lớn: ngày uống 4 lần, mỗi lần 2 - 3 thìa cà phê. Dùng 7 - 10 ngày.

Để chữa kiết lỵ, dùng vỏ quả lựu (20g), thái nhỏ, sao vàng, sắc uống với rễ cây phèn đen sao vàng, hạ thổ.

Có thể bạn quan tâm