Chủ tịch QH Nguyễn Văn An giới thiệu với QH đoàn đại biểu QH nước cộng hoà Belarus, do ông G. N. Noviski, Chủ tịch Quốc hội, dẫn đầu đang ở thăm nước ta tới dự phiên họp.
Buổi sáng, với sự điều khiển của Phó Chủ tịch QH Nguyễn Phúc Thanh, các đại biểu QH nghe Bộ trưởng Tài nguyên và Môi trường Mai Ái Trực, thừa ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ, đọc Tờ trình của Chính phủ về dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Khoáng sản.
Tờ trình của Chính phủ nêu rõ: Luật Khoáng sản được QH thông qua ngày 20-3-1996 đã góp phần quan trọng tăng cường công tác quản lý Nhà nước về khoáng sản và thúc đẩy phát triển hoạt động khoáng sản, quản lý, bảo vệ và sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên. Ngành công nghiệp khai thác, chế biến khoáng sản cũng đã có những bước phát triển và đóng góp nhất định vào sự tăng trưởng chung của nền kinh tế nước nhà.
Tuy nhiên, tình hình hoạt động khoáng sản hiện nay vẫn còn nhiều bất cập mà nổi bật là tình trạng khai thác lộn xộn, bừa bãi, trái phép; lãng phí tài nguyên khoáng sản còn nhiều, phần lớn khoáng sản xuất khẩu thô không qua chế biến; quản lý nhà nước còn nhiều yếu kém, phân công, phân cấp chưa rõ ràng... Thực trạng đó đặt ra yêu cầu bức thiết cần sớm sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật này.
Bộ trưởng Mai Ái Trực đề cập một số quan điểm, nguyên tắc chỉ đạo xây dựng Luật Khoáng sản ; kết cấu và nội dung sửa đổi, bổ sung chủ yếu;phạm vi sửa đổi, bổ sung; phân cấp thẩm quyền cấp phép hoạt động khoáng sản; quản lý Nhà nước về hoạt động khoáng sản
Tiếp đó, Ủy viên Ủy ban Thường vụ QH, Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học công nghệ và môi trường của QH Hồ Đức Việt đọc Báo cáo thẩm tra dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Khoáng sản. Theo Báo cáo thẩm tra của Ủy ban KH, CN và MT của QH, dự thảo trình QH lần này có 6 điều sửa đổi và bổ sung ba điều mới.
Các điều sửa đổi hoặc bổ sung mới được đặt tên phù hợp với nội dung điều; nội dung các điều được quy định tương đối rõ ràng và đang là những vấn đề bức xúc trong thực tiễn quản lý khoáng sản hiện nay.
Về một số nội dung cụ thể, Báo cáo thẩm tra nêu một số ý kiến đề nghị cần có quy định để làm rõ cơ chế phối hợp giữa các cơ quan quản lý Nhà nước về khoáng sản với các bộ, ngành khác có liên quan, nhằm tạo sự đồng bộ trong xây dựng quy hoạch khoáng sản với quy hoạch phát triển các ngành, lĩnh vực hữu quan khác, như với ngành điện (liên quan đến việc cân đối các nguồn cung cấp năng lượng điện như nhiệt điện, thủy điện, điện hạt nhân và các dạng năng lượng khác), ngành công nghiệp thực phẩm - đồ uống (liên quan đến nước khoáng đóng chai, nước thiên nhiên đóng chai), ngành du lịch sinh thái, chữa bệnh, nghỉ dưỡng (liên quan đến nước nóng thiên nhiên, nước khoáng chữa bệnh và việc xây dựng các khu du lịch sinh thái tại những nơi đã đóng cửa mỏ...), ngành công nghiệp vật liệu xây dựng (liên quan đến đất hiếm, đát sét, cát, sỏi, đá các loại), ngành thủy sản, nông nghiệp (liên quan đến việc bảo vệ nguồn nước, nuôi trồng thủy sản, xây dựng hồ chứa nước phục vụ tưới tiêu... ở các hồ nhân tạo do khai thác khoáng sản tạo ra); bảo đảm quốc phòng, an ninh và phát triển bền vững của đất nước.
Tiếp đó, QH dó nghe Tổng cục trưởng Du lịch Việt Nam Võ Thị Thắng, thừa ủy quyền Thủ tướng Chính phủ đọc Tờ trình của Chính phủ về dự án Luật Du lịch, nêu rõ, Qua năm năm thực hiện Pháp lệnh này, ngành du lịch Việt Nam đã có những bước phát triển khá toàn diện, góp phần phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế, tạo thêm nhiều việc làm, tạo nguồn thu đáng kể cho ngân sách Nhà nước, quảng bá và nâng cao vị thế đất nước và con người Việt Nam trên trường quốc tế. Tuy nhiên, ngành du lịch nước ta vẫn chưa có được sức hấp dẫn tương xứng với tiềm năng của đất nước, nhất là đối với khách du lịch quốc tế; hoạt động du lịch ở Việt Nam đã phát sinh thêm những quan hệ mới (cả trong nước và trên thế giới) mà Pháp lệnh Du lịch chưa bao quát hết để điều chỉnh; hệ thống pháp lệnh hiện hành về du lịch cũng chưa đáp ứng được các yêu cầu cơ bản về phát triển ngành du lịch bền vững, có trật tự, hiện đại, văn minh, theo định hướng trở thành ngành kinh tế mũi nhọn và tiếp cận với chuẩn mực quốc tế.
Tổng cục trưởng Võ Thị Thắng trình bày một số quan điểm chỉ đạo trong việc xây dựng Luật du lịch, những nội dung cơ bản của dự thảo luật Du lịch; quy hoạch phát triển du lịch, khu du lịch, tuyến du lịch , quản lý Nhà nước về du lịch, kinh doanh du lịch, xúc tiến du lịch, hợp tác quốc tế về du lịch; thanh tra về du lịch và giải quyết khiếu nại, tố cáo của khách du lịch.
Ủy viên Ủy ban Thường vụ QH, Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế và Ngân sách của QH Nguyễn Đức Kiên, trình bày Báo cáo thẩm tra về dự thảo Luật Du lịch. Báo cáo nêu rõ, Ủy ban Kinh tế và Ngân sách của QH cơ bản nhất trí về sự cần thiết ban hành Luật Du lịch thay thế Pháp lệnh Du lịch năm 1999 và các nội dung chủ yếu của dự thảo luật.
Tuy nhiên, vẫn còn một số vấn đề có ý kiến khác nhau ở một số điều cụ thể. Một số ý kiến đại biểu QH cho rằng, cần có quy định rành mạch về quyền và nghĩa vụ, trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động du lịch. Về trách nhiệm quản lý Nhà nước về du lịch, có hai loại ý kiến khác nhau.
Thứ nhất, theo mô hình hiện nay, Tổng cục Du lịch không phải là cơ quan quản lý Nhà nước về du lịch mà chỉ được Chính phủ giao thực hiện một số lĩnh vực liên quan. Như vậy, nếu hiểu cơ quan quản lý Nhà nước về du lịch ở TƯ là Tổng cục Du lịch hiện nay, thì quy định này là chưa chính xác, cần được sửa lại.
Thứ hai, hoạt động du lịch là hoạt động đa ngành với mô hình tổ chức quản lý Nhà nước về du lịch là Tổng cục Du lịch đã và đang gặp không ít khó khăn trong việc bảo đảm các yêu cầu về hiệu lực và hiệu quả của công tác quản lý Nhà nước đối với ngành du lịch hiện nay và những năm tới. Vì vậy cần khẳng định về địa vị pháp lý của cơ quan quản lý nhà nước về du lịch ở TƯ.
Hai dự thảo luận này sẽ được các đại biểu QH nghiên cứu, thảo luận trong thời gian tới của kỳ họp.
Sau giờ giải lao, các đại biểu QH tập trung thảo luận dự thảo Luật nghĩa vụ quân sự. Hầu hết các đại biểu nhất trí nội dung bổ sung, sửa đổi một số điều của Luật nghĩa vụ quân sự, nhằm giảm thời gian và độ tuổi thực hiện nghĩa vụ quân sự.
Các đại biểu Chu Quang Hà ( Hà Giang), Lê Hữu Sinh (Thanh Hoá), Bùi Thị Trung Hà ( Hà Nam), Nguyễn Thị Loan (Vĩnh Phúc) đồng ý với dự thảo, rút ngắn thời gian thực hiện nghĩa vụ quân sự của chiến sĩ, hạ sĩ quan từ 24 tháng trước đây còn 18 tháng; chiến sĩ, sĩ quan ở các binh quân chủng kỹ thuật, trên tàu hải quân từ 36 tháng rút còn 24 tháng, giúp cho chiến sĩ hoàn thành nghĩa vụ có điều kiện học tập, học nghề tiếp tục, sớm ổn định việc làm, đời sống.
Về độ tuổi thực hiện nghĩa vụ quân sự, các đại biểu cũng nhất trí rút từ 18-27 tuổi, xuống còn 18-25. Riêng đại biểu Nguyễn Đức Dũng ( Kon Tum) đề nghị độ tuổi thực hiện nghĩa vụ quân sự từ 18-24.
Các đại biểu Nguyễn Thị Loan, Nguyễn thị Khá ( Trà Vinh), Trần Văn Kiệt (Vĩnh Long), Nguyễn Thị Hồng Vy ( Sơn La) đề nghị, Nhà nước tăng cường đầu tư kinh phí cho quốc phòng an ninh, nhằm bảo vệ vững chắc độc lập đất nước và đầu tư cho việc dạy văn hoá, dạy nghề cho chiến sĩ, hạ sĩ quan và sĩ quan, để khi xuất ngũ, các đối tượng này có điều kiện học tiếp văn hoá hay xin việc làm.
Mở đầu phiên họp buổi chiều, Bộ trưởng Quốc phòng Phạm Văn Trà phát biểu ý kiến, cung cấp thêm thông tin để các đại biểu QH tham khảo khi thảo luận Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật nghĩa vụ quân sự. Trong phiên họp này đã có chín đại biểu QH tham gia thảo luận về những nội dung trọng tâm của dự án luật. Đại biểu Phùng Quang Thanh (Vĩnh Phúc), Nguyễn Văn Lân (Hải Phòng) nhất trí với tờ trình của Chính phủ và báo cáo thẩm tra của Ủy ban Quốc phòng và an ninh của QH là giữ nguyên phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng của Luật hiện hành, vì quy định như vậy là phù hợp Hiến pháp. Có ý kiến đề nghị đưa :”Công an nghĩa vụ” vào phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng của luật này, vì số lượng công dân được tuyển chọn hằng năm cho lực lượng công an không nhiều, vừa bảo đảm cho hoạt động khám tuyển thống nhất trong cả nước, vừa tiết kiệm ngân sách Nhà nước (Lưu Thị Giang-Bắc Ninh). Có ý kiến cho rằng, qua thực tế khám tuyển nghĩa vụ quân sự cho thấy, chủ yếu là con em nông dân, trình độ văn hoá thấp đi nghĩa vụ quân sự. Con nhà khá giả có điều kiện đi học đến tuổi khám tuyển thì lại vào đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp (Nguyễn Thị Hồng Xinh-Bà Rịa-Vũng Tàu). Do đó, đại biểu này đề nghị cần thay đổi cách tuyển quân để nâng cao chất lượng quân đội. Đồng thời có chính sách bảo đảm công bằng giữa thanh niên đi làm nghĩa vụ quân sự và số thanh niên không phải đi làm nghĩa vụ quân sự. Về vấn đề này, các đại biểu Phùng Quang Thanh, Nguyễn Văn Lân, Nguyễn Mạnh Đức (Yên Bái), Mạc Kim Tôn (Thái Bình), Nguyễn Xuân Khởi (Bắc Giang) đề nghị tạo điều kiện cho bộ đội xuất ngũ có việc làm, tăng phụ cấp, tăng kinh phí hỗ trợ học nghề.
Điều 24 bổ sung thành viên của ngành Tư pháp, giáo dục, tài chính vào Hội đồng nghĩa vụ quân sự được đa số ý kiến phát biểu tán thành. Tuy nhiên, cũng có ý kiến đề nghị chỉ cần ghi danh Chủ tịch, Phó Chủ tịch Hội đồng nghĩa vụ quân sự là đủ, không cần thiết ghi danh cụ thể các thành viên của Hội đồng này. Về việc hạ độ tuổi công dân tham gia nghĩa vụ quân sự, đa số ý kiến tán thành dự thảo sửa độ tuổi công dân được gọi nhập ngũ từ đủ 18 tuổi đến hết 27 tuổi xuống còn từ đủ 18 tuổi đến hết 25 tuổi trong thời bình.
Điều 14 Luật nghĩa vụ quân sự hiện hành quy định: Thời hạn phục vụ tại ngũ trong thời bình của hạ sĩ quan và binh sĩ là hai năm. Thời hạn phục vụ tại ngũ trong thời bình của hạ sĩ quan chỉ huy, hạ sĩ quan và binh sĩ chuyên môn kỹ thuật do quân đội đào tạo, hạ sĩ quan và binh sĩ trên tàu hải quân là ba năm. Dự thảo sửa đổi rút các thời hạn nói trên xuống còn 18 tháng và hai năm. Nhiều ý kiến tán thành việc sửa đổi này, nhưng cũng còn ý kiến băn khoăn với thời hạn đó có đủ để huấn luyện chiến sĩ sử dụng thành thục binh khí kỹ thuật hiện đại? Do đó đề nghị, đối với hạ sĩ quan chỉ huy, hạ sĩ quan và binh sĩ chuyên môn kỹ thuật... sửa là 30 tháng.
Các đại biểu còn đóng góp ý kiến vào một số vấn đề khác như: việc huấn luyện chính trị cho quân nhân xuất ngũ, việc xử phạt đối với quân nhân đào ngũ, việc tạm hoãn gọi nhập ngũ trong thời bình và đề nghị chỉnh sửa câu chữ cho chặt chẽ.