Phát triển năng lượng trong thời khủng hoảng dầu mỏ thế giới

Khủng hoảng dầu mỏ thế giới

Qua nghiên cứu quan hệ cung cầu dầu thế giới trong hơn một thập kỷ qua, chúng ta có nhận xét là nhu cầu dầu mỏ tăng lên mạnh khi chu kỳ kinh tế thế giới bước vào giai đoạn phục hồi và tăng trưởng trong thời gian từ 4 đến 5 năm nhu cầu lại tăng đột biến,  hiện tượng này đã làm thế giới quan tâm lo ngại. Do quan hệ cung cầu mất cân đối như vậy đã làm giá dầu biến động lớn trên thị trường. Ðặc biệt, trong thời gian gần đây, giá dầu thô đã vượt ngưỡng 70 USD/thùng, thậm chí có ngày lên tới 72,6 USD. Biến động bất lợi của giá cả đã tác động nhiều mặt vào hầu hết các nền kinh tế của thế giới, bởi lẽ dầu không chỉ là nguồn nhiên liệu quan trọng mà còn là nguồn nguyên liệu chủ yếu của nhiều ngành công nghiệp hiện đại như hóa chất, vải sợi, chất dẻo, tân dược, phân bón, cao-su nhân tạo, v.v. Lượng dầu tiêu dùng hằng ngày của thế giới cũng tăng lên nhanh. Năm 2003 là 79,80 triệu thùng, 2004 là 82,80; 2005 là 84,80 và năm 2006 dự báo tiêu dùng là 86,9. Trong khi đó tổng cung luôn không đáp ứng được nhu cầu: năm 2003 là 79,50 triệu thùng; 2004 là 82,60; năm 2005 là 84,30; năm 2006 dự báo là 86,40.

Trong những năm tới (2006 - 2010) nhu cầu về dầu tiếp tục tăng cao do những nguyên nhân sau đây:

Kinh tế thế giới đang trong giai đoạn phát triển sẽ có nhu cầu tiêu thụ năng lượng rất lớn, đặc biệt là dầu mỏ. Ở nhiều quốc gia đã sử dụng dầu để sản xuất điện, càng làm vị trí của dầu quan trọng hơn bao giờ hết. Theo Quỹ Tiền tệ quốc tế, tăng trưởng kinh tế thế giới năm 2004 đạt 5,1% và năm 2005 là 4,3%, dự báo năm 2006 là 4,1%. Trong đó các nền kinh tế lớn của thế giới như Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Ðộ, EU, Nga, v.v. giữ vai trò chi phối.

Với sự tăng trưởng kinh tế toàn cầu sẽ đưa thế giới vào chu kỳ tiêu dùng dầu đột biến mới. Hơn nữa các nền kinh tế lớn và những nước công nghiệp phát triển hiện tại có nhu cầu tiêu dùng nhiều dầu song khả năng cung ứng thấp, chủ yếu phải nhập khẩu.

- Quá trình toàn cầu hóa các nền kinh tế thúc đẩy mạnh hơn công nghiệp hóa, hiện đại hóa các nền kinh tế còn lại của thế giới và nó thúc đẩy nhu cầu tiêu dùng dầu mỏ lên mức mới cao hơn.

- Thời tiết biến đổi khác thường gây tác động xấu vào đời sống kinh tế - xã hội và dân sinh. Do vậy nhu cầu về năng lượng (dầu) khắc phục hậu quả của thiên tai là rất lớn.

- Dự trữ dầu của các quốc gia sẽ tăng lên. Thị trường dầu mỏ luôn không ổn định, tiêu dùng dầu mỏ cho nền kinh tế và phòng chống thiên tai với số lượng rất lớn. Ðiều này bắt buộc các quốc gia phải có lực lượng dầu dự trữ đáng kể để đề phòng những biến động của thị trường, biến động về thời tiết khí hậu, bảo đảm an toàn năng lượng cho đất nước.

Mặc dù nhu cầu về dầu là rất cao song khả năng cung ứng là có hạn. Thế giới sẽ lâm vào tình trạng khủng hoảng thiếu dầu trầm trọng.

- Trữ lượng dầu của thế giới là hạn chế. Dầu mỏ đã được khai thác hàng trăm năm, tới nay đã bắt đầu vào thời kỳ suy kiệt. Tính đến ngày 1-1-2006 trữ lượng dầu thô toàn cầu là 1.292.549.534.000 thùng (Tạp chí OIL & gas (OGJ) - Thời báo kinh tế Việt Nam 16-1-2006), chỉ bảo đảm tiêu dùng tiết kiệm cho thế giới chừng 30 năm nữa. Không bao lâu thế giới sẽ lâm vào tình trạng khủng hoảng lớn về năng lượng nếu không có nguồn thay thế dầu mỏ.

- Công nghệ khai thác và hóa dầu lạc hậu. Phần lớn, các nước có tài nguyên dầu đều thuộc các nước công nghiệp kém phát triển. Những quốc gia này đảm nhiệm cung ứng toàn bộ dầu cho thị trường quốc tế, đều phải nhập khẩu các thiết bị cho khai thác và hóa dầu. Những nước công nghiệp phát triển sử dụng công nghệ như là vũ khí để chi phối các quốc gia dầu mỏ. Do công nghệ khai thác và hóa dầu càng lạc hậu, năng suất khai thác, chế biến thấp đã giảm đáng kể lượng cung trên thị trường.

- Dầu trở thành công cụ phục vụ mục đích chính trị. Do vị trí của dầu ngày càng quan trọng như vậy nên bằng mọi giải pháp, các cường quốc thế giới và khu vực tranh nhau chiếm đoạt nguồn dầu mỏ nhằm chi phối các nước khác làm cho thị trường dầu mỏ càng trở nên mất ổn định, giá cả leo thang không thể kiểm soát. Hiện tượng này đã diễn ra và làm cho nhiều nước rất quan ngại.

Từ những vấn đề trên cho phép chúng ta kết luận rằng thị trường dầu mỏ thế giới trong những năm tới không ổn định. Cung luôn thấp hơn cầu và giá dầu biến động mạnh có xu hướng tăng cao. Thế giới sẽ lâm vào tình trạng khủng hoảng thiếu năng lượng.

Vấn đề phát triển năng lượng của Việt Nam

Với bối cảnh năng lượng thế giới như vậy Việt Nam cần sớm có chiến lược năng lượng để có thể giảm thiểu những tác động tiêu cực do khủng hoảng năng lượng toàn cầu gây ra. Theo chúng tôi, chiến lược đó phải giải quyết những vấn đề dưới dây:

- Khai thác và sử dụng có hiệu quả tài nguyên dầu mỏ. Việt Nam hằng năm xuất khẩu chừng 15 triệu tấn dầu thô. Trữ lượng biết được cho tới nay còn rất khiêm tốn so với các quốc gia dầu mỏ khác. Việt Nam chưa có công nghiệp hóa dầu và mỗi năm phải nhập khẩu khoảng 2 triệu tấn xăng dầu cho nhu cầu sản xuất và tiêu dùng trong nước. Thực trạng này tuy hiệu quả thấp song cũng phù hợp điều kiện của Việt Nam trong giai đoạn vừa qua. Nhờ xuất khẩu dầu thô mà Việt Nam có được lượng vốn ngoại tệ đáng kể, làm cú hích ban đầu cho thời kỳ tăng trưởng của nền kinh tế. Trước yêu cầu phát triển kinh tế trong tương lai, đòi hỏi chúng ta phải khai thác và sử dụng tài nguyên dầu mỏ với hiệu quả cao nhất nhằm kéo dài thời gian cung ứng nguồn năng lượng này cho nền kinh tế, thực hiện dự trữ chúng trong lòng đất. Như vậy đòi hỏi chúng ta phải có kế hoạch và thực hiện khai thác chi tiết triệt để các mỏ đang hoạt động, kể cả khí đồng hành. Triển khai công nghệ thích hợp trong khai thác  để tận thu dầu và khí phát triển công nghiệp hóa dầu sao cho tới năm 2020 Việt Nam có thể đảm nhiệm chế biến dầu khí của mình, trên cơ sở đó sẽ ngừng nhập khẩu xăng dầu và thay vì việc xuất dầu thô là xăng dầu và các sản phẩm chế biến từ dầu mỏ.

- Khuyến khích khai thác các nguồn năng lượng thiên nhiên khác. Thủy điện cần khai thác sớm sẽ mang lại hiệu quả cao. Phải có nhiều phương án chọn lựa bảo đảm khai thác tối đa năng lượng các dòng sông, con suối. Ở Việt Nam hệ thống sông suối khá dày và có độ dốc lớn, lượng mưa trong năm lại cao, đó là những yếu tố bảo đảm cho nguồn thủy năng lớn. Hiện tại chúng ta đã khai thác tương đối tốt thủy năng sông Ðà, sông Ðồng Nai, Ða Nhim, Sê San... song tiềm năng thủy điện còn rất lớn, đặc biệt hệ thống thủy điện nhỏ từ 5 kW trở lên.

Than cũng là nguồn năng lượng lớn của nước ta. Ngoài than gầy, than mỡ ở Quảng Ninh, Thái Nguyên... còn than bùn xuất hiện ở nhiều nơi. Cần ưu tiên than cho nhu cầu tiêu  dùng trong nước và thực hiện xuất khẩu một tỷ lệ hợp lý. Phát triển những tổ hợp máy phát nhiệt điện cực lớn sử dụng than chất lượng thấp nhằm có chi phí thấp và hiệu quả cao. Cần huy động nhiều hơn nữa các nguồn than bùn, than cám cho sản xuất điện, nghiên cứu sử dụng than qua lửa cho dân sinh.

Cải tạo, nâng cấp hệ thống truyền tải điện nhằm giảm thiểu sự hao hụt, mất mát điện trên đường dây. Nâng cấp và mở rộng hệ thống đường siêu cao thế từ 500 kV trở lên và đưa loại dây dẫn có điện trở suất thấp vào vận hành nhằm giải quyết tình trạng hao hụt điện lớn trong truyền tải đường dài hiện nay.

Năng lượng mặt trời, địa nhiệt, gió, thủy triều và sóng biển... đều là những nguồn năng lượng mới, ở nước ta có tiềm năng lớn song khai thác đang còn rất hạn chế. Chúng ta cần khuyến khích rộng rãi việc nghiên cứu ứng dụng nhằm bước đầu khởi động khai thác và sử dụng nguồn năng lượng này.

Năng lượng nguyên tử cũng là nguồn quan trọng trong tương lai của nước ta, song cả nguồn tài nguyên và công nghệ chúng ta đều phụ thuộc vào nước ngoài. Nếu có những biến động trong quan hệ quốc tế chúng ta sẽ gặp nhiều khó khăn không lường hết được. Năng lượng hạt nhân (năng lượng thu được do phá vỡ hạt nhân nguyên tử) cũng là nguồn quan trọng đối với chúng ta. Trong nước biển có nước nặng (H3O), đây là nguồn năng lượng vô tận. Song hiện nay nhân loại chưa điều khiển được hành trình loại phản ứng này nên nguồn này chưa có hy vọng khai thác trong tương lai gần.

Năng lượng tái sinh phải được khai thác ngay, cần phát triển các bể khí sinh vật rộng rãi trong nông thôn và miền núi nhằm khai thác tốt nguồn năng lượng này. Bể khí sinh vật mang lại hiệu quả kinh tế xã hội rất cao, vừa cung cấp năng lượng cho tiêu dùng của dân vừa góp phần giải quyết triệt để vấn đề môi trường ở nông thôn.

Nhà nước cần sớm hoàn thiện hệ thống chính sách đối với kinh doanh và sử dụng năng lượng. Ðây không phải là kinh doanh đơn thuần mà là ngành kinh doanh có điều kiện. Các doanh nghiệp phải có những điều kiện nhất định mới được phép kinh doanh. Gắn việc khai thác dầu với chế biến, với công nghiệp hóa dầu của Việt Nam. Không nên khai thác ồ ạt bằng mọi giá, phải có kế hoạch chi tiết, khai thác với số lượng cụ thể nhằm thực hiện nhiệm vụ và mục tiêu kinh tế xã hội nhất định. Khuyến khích các nhà đầu tư trong nước mở rộng đầu tư vào lĩnh vực năng lượng, không để các nhà đầu tư nước ngoài chi phối ngành này. Về cơ chế có thể phân loại các doanh nghiệp hiện có trong các ngành năng lượng, kiểm tra và yêu cầu hoàn chỉnh những điều kiện cần thiết. Ðối với những doanh nghiệp có vị trí trọng yếu, nhà nước bằng những giải pháp thích hợp nắm quyền chi phối hoặc kiểm tra giám sát để có thể tác động điều chỉnh, bảo đảm chiến lược năng lượng quốc gia được thực hiện.

Có thể bạn quan tâm