Bài 1: Hiệu quả từ một chủ trương đúng
Nhờ thực hiện chính sách giao đất cho dân, xã hội hóa trồng rừng, khuyến khích, thu hút các doanh nghiệp đầu tư các cơ sở chế biến lâm sản, ngành lâm nghiệp của các tỉnh trung du, miền núi phía bắc có mức tăng trưởng khá và là một trong những ngành mũi nhọn của các địa phương. Nhiều mô hình sản xuất lâm nghiệp đem lại hiệu quả cao đã xuất hiện, giúp nhiều hộ dân xóa đói, giảm nghèo, vươn lên làm giàu từ kinh tế rừng.
Khuyến khích đầu tư phát triển kinh tế rừng
Tỉnh Lào Cai có diện tích rừng và đất lâm nghiệp chiếm hơn hai phần ba diện tích đất tự nhiên (327.000 ha), trong đó có 286.000 ha rừng, hơn 80% dân số là đồng bào dân tộc thiểu số, sống nhờ vào nguồn tài nguyên rừng. Vì vậy, Lào Cai chủ trương phát triển kinh tế rừng, với mục tiêu đa dạng sản phẩm và nâng cao thu nhập của người dân từ rừng để thực hiện mục tiêu kép, vừa tăng diện tích che phủ rừng, vừa bảo đảm và nâng cao đời sống cho người dân, nhất là đồng bào dân tộc thiểu số, ở vùng cao, vùng sâu, khu vực biên giới. Thực hiện chủ trương này, tỉnh đã ban hành nhiều chính sách hỗ trợ trồng rừng thay thế nương rẫy, trồng rừng sau đầu tư; hỗ trợ đầu tư chế biến sâu lâm sản… Chúng tôi đến thôn Bông 2, xã Bảo Hà (huyện Bảo Yên) chứng kiến những đồi quế hơn hai tuổi, đang ken lá xanh mướt dưới bóng xoan đào trồng thưa để chống nóng và trồng xen với ngô, sắn của gia đình ông Trần Hữu Xương, người dân tộc Dao đỏ. Gia đình ông Xương trồng hơn 5 ha quế trên diện tích đất lâm nghiệp dành cho rừng sản xuất theo quy hoạch. Khác với trước đây, từ năm 2016, huyện Bảo Yên thay đổi cách thức hỗ trợ người dân trồng rừng sản xuất từ trả tiền trước sang trả sau, khi cây trồng được nghiệm thu tại vườn, nương, đồi của người dân đạt tiêu chuẩn thì mới được nhận tiền hỗ trợ. Theo cách này, thay vì cấp phát giống cho người dân, thì hộ gia đình, cá nhân và cộng đồng có đất quy hoạch là rừng sản xuất tự mua giống và trồng rừng. Sau khi rừng trồng được các cơ quan chuyên môn bao gồm: Ban quản lý rừng 661, kiểm lâm, Phòng Nông nghiệp huyện và chính quyền xã nghiệm thu tại thực địa, thì chủ đầu tư thực hiện chi trả tiền hỗ trợ cho người trồng rừng. Hạt trưởng Kiểm lâm Bảo Yên Phạm Hồng Thái khẳng định, cách làm này mang lại “lợi ích kép”, đó là khuyến khích người dân chủ động đầu tư phát triển kinh tế rừng, giao quyền tự chủ cho người dân trồng rừng, từ khâu giống, thời gian trồng, chăm sóc, thu lợi, bảo đảm đúng diện tích, tỷ lệ cây sống cao, chất lượng tốt. Sau bốn năm thực hiện phương thức hỗ trợ trồng rừng theo kết quả thực tế, tỉnh Lào Cai đã trồng được hơn 25.000 ha rừng sản xuất, trong đó có hơn 18.000 ha được Nhà nước hỗ trợ kinh phí, còn lại 6.500 ha do người dân tự trồng, tỷ lệ cây sống cao, khép tán nhanh, sinh trưởng tốt.
Tỉnh Thái Nguyên quy hoạch hơn 90.000 ha đất rừng sản xuất, đến nay đã cơ bản được người dân phủ kín bằng những cây phù hợp thổ nhưỡng, khí hậu địa phương, gắn với đẩy mạnh đầu ra sản phẩm. Gia đình ông Phạm Văn Long, ở xóm Vân Hán, xã Văn Hán, huyện Đồng Hỷ có 30 ha đất lâm nghiệp, trước đây để cây cối mọc tự nhiên, giá trị kinh tế rất thấp. Năm 1998, ông Long được Nhà nước hỗ trợ trồng rừng theo Dự án 661 với diện tích 10 ha. Sau gần 10 năm chăm sóc, toàn bộ 10 ha rừng keo của gia đình ông Long cho thu hoạch, thu gần một tỷ đồng. Khai thác đến đâu gia đình ông Long trồng rừng thay thế đến đó, đồng thời trồng trên diện tích 20 ha còn lại, đến nay ông có 30 ha rừng keo, sau sáu, bảy năm lại đến chu kỳ khai thác, mỗi héc-ta mang lại gần 100 triệu đồng. Đến nay, cả xã Văn Hán đã trồng được hơn 4.000 ha rừng sản xuất, thấy rõ lợi ích kinh tế mang lại, những năm gần đây bà con tự đầu tư trồng rừng mà không cần sự hỗ trợ của Nhà nước như những năm trước. Theo Chủ tịch UBND xã Nguyễn Xuân Hiền, bình quân mỗi năm, người dân trong xã khai thác 500 ha rừng, thu nhập từ 80 đến 100 triệu đồng/ha. Nhờ đó, góp phần quan trọng giảm tỷ lệ hộ nghèo của xã từ 18,5% (năm 2015) còn 3,3%, đưa thu nhập bình quân của người dân tăng gấp hai lần, từ 17 triệu đồng/người lên 35 triệu đồng/người vào năm 2020 và giúp Văn Hán được công nhận là xã nông thôn mới.
Tỉnh Yên Bái nâng cao chất lượng giá trị rừng trồng bằng việc thực hiện trồng rừng sản xuất theo hướng quản lý rừng bền vững (FSC). Đến nay, tỉnh có hơn 12.000 ha rừng trồng được cấp chứng chỉ FSC, phấn đấu khoảng bốn năm tới có khoảng 100.000 ha rừng được cấp chứng chỉ. Chúng tôi cùng cán bộ Hạt Kiểm lâm Yên Bình đến thôn Miếu Hạ, xã Thịnh Hưng, huyện Yên Bình gặp hộ Nguyễn Văn Tám để tìm hiểu hiệu quả của việc trồng rừng gỗ lớn, ông Tám cho biết, gia đình có 4 ha rừng trồng, chủ yếu là keo và lát xoan. Nhờ quay vòng khai thác và tỉa thưa gỗ rừng trồng, kết hợp nuôi cá, nuôi lợn, gà, ong lấy mật dưới tán rừng, hằng năm gia đình có thu nhập hơn 100 triệu đồng từ kinh tế trang trại, cuộc sống đổi thay nhiều so với trước. Chu kỳ khai thác gỗ rừng trồng trong vùng thường là sáu năm, nhưng ông Tám kéo dài chu kỳ sản xuất hơn 10 năm. Khi khai thác, gỗ thân lớn, sản lượng nhiều hơn, được cấp chứng chỉ FSC, giá bán cao gần gấp rưỡi so với giá gỗ cùng loại. Hạt trưởng Kiểm lâm huyện Yên Bình, Nguyễn Tiến Dĩnh cho biết, hơn 4.000 ha rừng được cấp chứng chỉ FSC của huyện có giá bình quân khoảng 2,3 triệu đồng/m3, cao hơn 500 nghìn đồng/m3 so với gỗ thường. Nhờ đó, ba cơ sở chế biến gỗ FSC là Công ty CP Yên Thành, Công ty TNHH Hoàng Gia, Công ty TNHH Hòa Phát trên địa bàn có vùng nguyên liệu thu mua, đủ điều kiện pháp lý trong chế biến để xuất khẩu trực tiếp, giúp người dân địa phương có thu nhập tốt nhờ trồng rừng gỗ lớn.
Phát triển rừng còn góp phần bảo vệ nguồn nước, phòng, chống lũ lụt, bảo vệ môi trường. Tại thôn Cốc Héc, xã Trung Thành (huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang) trước đây phần lớn đất lâm nghiệp trong thôn là đồi trọc. Năm 2018, anh Vương Seo Tiến, Trưởng thôn Cốc Héc cùng 13 thanh niên trong thôn có đất rừng, đã thành lập Tổ hợp tác thanh niên khởi nghiệp trồng rừng. Được chính quyền địa phương hỗ trợ, tổ hợp tác lên kế hoạch trồng 50 ha keo Úc. Giờ đây, những quả đồi trong thôn Cốc Héc đã xanh mầu xanh của cây keo. Rừng keo gần bốn năm tuổi có thân cây to bằng bắp đùi hứa hẹn cho các thành viên trong thôn có nguồn thu nhập khá sau hai năm nữa. Từ phong trào trồng rừng của tổ hợp tác, người dân trong thôn đã học tập, làm theo, trồng thêm được 50 ha rừng mới. Anh Vương Seo Tiến cho biết: “Trước đây, đất đồi quanh thôn không có cây, nên khi mưa xuống gây ra lũ lụt, ngập úng. Hai năm gần đây, những cánh rừng trong thôn lên xanh tốt, con suối Khâu Hách lúc nào cũng có nước, bảo đảm nguồn nước sinh hoạt, nước tưới tiêu cho 126 hộ dân ổn định quanh năm”.
Đẩy mạnh chế biến, tiêu thụ lâm sản
Trong những năm qua, các tỉnh trung du, miền núi phía bắc không chỉ tập trung mở rộng diện tích và khối lượng rừng trồng, mà có nhiều chính sách thu hút nguồn lực đầu tư khâu chế biến và thương mại lâm sản, nâng cao giá trị gia tăng của sản phẩm lâm nghiệp.
Giai đoạn 2016 - 2020, ngành lâm nghiệp của tỉnh Tuyên Quang đạt mức tăng trưởng khá, giá trị sản xuất lâm nghiệp tăng bình quân đạt 8,8%/năm; năng lực chế biến gỗ rừng trồng, diện tích rừng trồng được cấp chứng chỉ FSC và tỷ lệ che phủ rừng nằm trong tốp đầu cả nước (hơn 65%). Tỉnh ủy Tuyên Quang đã ban hành nhiều nghị quyết chuyên đề về phát triển kinh tế lâm nghiệp, tạo sự chuyển biến rõ rệt từ nhận thức đến việc chỉ đạo, tổ chức thực hiện của các cấp, các ngành và nhân dân đối với công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng; là động lực thúc đẩy sản xuất, phát triển kinh tế; sản xuất lâm nghiệp của tỉnh, khuyến khích, thu hút vốn đầu tư của nhiều thành phần kinh tế tham gia bảo vệ và phát triển rừng, phát triển chế biến lâm sản. 5 năm qua, tỉnh đã trồng được 53.570,4 ha rừng, bằng 105% so kế hoạch đề ra. Trong đó, tỷ lệ rừng trồng được kiểm soát giống chiếm hơn 80% tổng diện tích rừng trồng hằng năm. Vì thế thu hút được nhiều doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực chế biến và tiêu thụ lâm sản. Đơn cử như Công ty cổ phần Giấy An Hòa có công suất tiêu thụ 495.000 m3 gỗ nguyên liệu giấy và 195.000 tấn nguyên liệu sợi dài/năm. Sau khi xây dựng nhà máy tại xã Vĩnh Lợi (huyện Sơn Dương), được tỉnh quy hoạch vùng nguyên liệu 163.358,8 ha, công ty đã liên doanh, liên kết với người dân trong vùng để phát triển nguyên liệu giấy. Ông Hoàng Minh Sơn, Giám đốc hành chính, nhân sự của công ty cho biết, bình quân mỗi năm công ty hỗ trợ cho người dân hai triệu cây keo giâm hom chất lượng cao và thiết kế trồng rừng. Đến khi thu hoạch, doanh nghiệp thu mua toàn bộ sản phẩm gỗ rừng trồng theo giá thị trường. Bên cạnh đó, công ty ưu tiên tuyển chọn lao động trong vùng để đào tạo làm công nhân, tạo sự gắn bó giữa người làm rừng với nhà máy. Hiện, hơn 800 công nhân trong nhà máy có thu nhập bình quân 8,6 triệu đồng/người/tháng, góp phần tích cực giảm nghèo ở địa phương.
Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Lào Cai, Tô Mạnh Tiến cho biết, đối với rừng gỗ lớn, Lào Cai hạn chế xuất khẩu sản phẩm thô, giá trị thấp; hướng tới sản xuất sản phẩm tinh, mẫu mã và có xuất xứ nguồn gốc, thương hiệu. Chuyển đổi phương thức tổ chức sản xuất, hình thành các tổ, nhóm sản xuất theo từng mặt hàng sản phẩm, hình thành các HTX lâm nghiệp chuyên môn hóa cao theo chuỗi giá trị sản phẩm và định hướng sản phẩm OCOP. Toàn tỉnh hiện có hàng trăm cơ sở chế biến lâm sản, nhiều nhất là cơ sở bóc ván, ở các huyện Bảo Thắng, Bảo Yên, Văn Bàn…, giúp tiêu thụ gỗ rừng trồng cho người dân. Với khoảng hơn 300 tổ chức kinh tế và cơ sở chế biến kinh doanh lâm sản hiện đang hoạt động trên địa bàn, tỉnh Lào Cai đã ban hành và thực hiện cơ chế, chính sách ưu đãi, khuyến khích doanh nghiệp đầu tư chế biến sâu nhằm tạo giá trị gia tăng, nâng cao sức cạnh tranh, mở rộng thị trường tiêu thụ và bảo vệ môi trường sinh thái trong khai thác và chế biến lâm sản ở địa phương, với mục tiêu đưa giá trị sản xuất lâm nghiệp tăng từ 13 đến 15%/năm, giá trị thu nhập từ lâm sản đạt hơn 40 triệu đồng/ha/năm, giúp người dân có thu nhập ngày càng cao.
Giai đoạn 2016 - 2020, tỉnh Phú Thọ đã trồng khoảng 48.000 ha rừng sản xuất, tăng 16,7% so với năm 2015. Tỉnh thay thế rừng bạch đàn tái sinh, khuyến khích phát triển rừng cây gỗ lớn, chú trọng thâm canh tăng năng suất rừng trồng. Nhờ đó, sản lượng gỗ khai thác đạt gần 3,1 triệu m3, tăng 60% so với năm 2015; năng suất rừng trồng đạt 15 m3/ha/năm, độ che phủ rừng đến năm 2020 đạt 39,8%... Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Phú Thọ Trần Tú Anh cho biết, trong những năm qua, tỉnh luôn xác định phát triển kinh tế rừng là một trong những nhiệm vụ trọng tâm trong cơ cấu kinh tế. Đặc biệt, ngành chế biến gỗ trên địa bàn phát triển khá nhanh, toàn tỉnh hiện có 178 doanh nghiệp, sáu HTX, 714 cơ sở chế biến gỗ và lâm sản quy mô vừa, khoảng 2.100 cơ sở chế biến quy mô hộ gia đình với các sản phẩm chủ yếu là gỗ xẻ, gỗ thanh, ván bóc, ván ép, đũa, dăm mảnh, đồ mộc dân dụng... Cơ cấu sản phẩm chế biến gỗ chuyển biến tích cực theo hướng giảm tỷ lệ nguyên liệu giấy, tăng sản lượng gỗ xẻ, gỗ thanh, ván bóc, ván ép..., qua đó nâng cao giá trị sản xuất, thu nhập cho người trồng rừng và cung cấp nguyên liệu cho phát triển công nghiệp chế biến gỗ.
Đến nay, tỉnh Thái Nguyên có hơn 97.000 ha rừng sản xuất, năng suất bình quân đạt 70 m3/ha; hình thành gần 555 cơ sở sản xuất, chế biến gỗ, trong đó có một số cơ sở chế biến gỗ có quy mô vừa, như Công ty CP Ván ép Việt Bắc có nhà máy chế biến 30.000 m3 sản phẩm/năm; Công ty TNHH UJU VINA Thái Nguyên sản xuất viên gỗ nén, dăm gỗ, mùn cưa, xuất khẩu 100.000 tấn sản phẩm/năm; Nhà máy giấy Hoàng Văn Thụ sản xuất 15.000 tấn/năm; hiện nay đang xây dựng nhà máy chế biến gỗ hơn 30.000 m3 sản phẩm ván dăm/năm. Mỗi năm, doanh thu từ việc trồng rừng và chế biến gỗ mang lại 560 tỷ đồng, tăng 172 tỷ đồng so với năm 2015, góp phần giảm tỷ lệ hộ nghèo toàn tỉnh còn 3,1%, trong đó tỷ lệ hộ nghèo là đồng bào dân tộc thiểu số còn 5,51%.
Đánh giá về kết quả nổi bật trong công tác phát triển lâm nghiệp của nước ta nói chung, khu vực các tỉnh trung du, miền núi phía bắc nói riêng, Phó Tổng cục trưởng Lâm nghiệp Phạm Văn Điển cho biết: Trong những năm gần đây, với quan điểm mới về phát triển lâm nghiệp, được hiện thực hóa thông qua các chính sách, chương trình hành động lớn, rừng được khôi phục và phát triển nhanh, tỷ lệ che phủ rừng tăng nhanh, chất lượng rừng được cải thiện một bước quan trọng, tạo tiền đề cho phát triển các dịch vụ môi trường rừng. Kim ngạch xuất khẩu đồ gỗ và lâm sản liên tục tăng mạnh, chi trả dịch vụ môi trường rừng góp phần tạo nguồn thu ngân sách, nâng cao thu nhập cho người dân địa phương.
(Còn nữa)