Những kết quả đạt được không chỉ thúc đẩy thanh toán không dùng tiền mặt mà còn góp phần nâng cao minh bạch, an toàn hệ thống và mở rộng tiếp cận tài chính cho người dân, doanh nghiệp.
Tạo hành lang pháp lý cho đổi mới sáng tạo
Chuyển đổi số trong ngành ngân hàng thời gian qua được triển khai toàn diện, bài bản, với định hướng rõ ràng từ cơ quan quản lý. Trọng tâm trước hết là xây dựng và hoàn thiện thể chế nhằm tạo hành lang pháp lý thuận lợi cho đổi mới sáng tạo. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã chủ động nghiên cứu, tham mưu ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật, đồng thời ban hành các thông tư, quy định liên quan bảo đảm an ninh, an toàn trong hoạt động ngân hàng. Các quy định này không chỉ tháo gỡ điểm nghẽn pháp lý mà còn mở đường cho việc ứng dụng công nghệ mới, đặc biệt là xác thực điện tử qua VNeID và chuẩn hóa an toàn hệ thống thông tin.
Trong công tác điều hành, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cũng kiện toàn Ban Chỉ đạo chuyển đổi số của ngành, tập trung vào 5 trụ cột gồm khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, dữ liệu và Đề án 06. Đồng thời, ban hành Kế hoạch hành động thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW với 105 nhiệm vụ trọng tâm, tạo khung định hướng xuyên suốt cho toàn ngành trong triển khai các nhiệm vụ chuyển đổi số.
Song song với hoàn thiện thể chế, hạ tầng công nghệ phục vụ chuyển đổi số tiếp tục được đầu tư, nâng cấp. Hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng hoạt động thông suốt, an toàn, bảo đảm xử lý giao dịch hiệu quả. Hệ thống chuyển mạch và bù trừ điện tử do Công ty Cổ phần Thanh toán Quốc gia Việt Nam (NAPAS) vận hành được mở rộng kết nối với nhiều ngành, lĩnh vực, góp phần triển khai dịch vụ công trực tuyến qua Cổng dịch vụ công quốc gia, nhất là trong các lĩnh vực y tế, giáo dục, giao thông.
Đáng chú ý, hợp tác thanh toán bán lẻ xuyên biên giới qua mã QR giữa Việt Nam với các quốc gia trong khu vực và đối tác quốc tế đã được triển khai, mở rộng không gian thanh toán số, tạo thuận lợi cho giao thương và du lịch.
Trên nền tảng hạ tầng đó, hệ sinh thái sản phẩm, dịch vụ ngân hàng số phát triển mạnh mẽ. Nhiều nghiệp vụ cơ bản đã được số hóa hoàn toàn; nhiều tổ chức tín dụng có tỷ lệ giao dịch trên kênh số vượt 90%. Đến cuối năm 2025, gần 89% người dân trưởng thành có tài khoản ngân hàng, phản ánh mức độ phổ cập dịch vụ tài chính ngày càng cao.
Thúc đẩy thanh toán không tiền mặt
Thanh toán không dùng tiền mặt tiếp tục tăng trưởng ấn tượng. Năm 2025, giá trị thanh toán không dùng tiền mặt gấp khoảng 28 lần GDP. Trong quý I/2026, số lượng giao dịch tăng gần 38%, giá trị tăng hơn 14% so với cùng kỳ. Đặc biệt, thanh toán qua Internet và điện thoại di động tăng mạnh, trong khi giao dịch qua ATM giảm, cho thấy xu hướng chuyển dịch rõ rệt từ tiền mặt sang phương thức thanh toán số.
Dịch vụ tiền di động cũng ghi nhận kết quả tích cực, nhất là tại khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa. Đến cuối tháng 3/2026, đã có hơn 11,45 triệu tài khoản được đăng ký và sử dụng, góp phần mở rộng tiếp cận tài chính toàn diện.
Thanh toán dịch vụ công qua ngân hàng tiếp tục được đẩy mạnh. 100% cơ sở giáo dục đại học tại đô thị chấp nhận thanh toán học phí qua ngân hàng; phần lớn cơ sở giáo dục phổ thông đã sẵn sàng hạ tầng thanh toán số. Khoảng 82% người hưởng lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội tại đô thị được chi trả qua phương thức không dùng tiền mặt.
Một trụ cột quan trọng khác là phát triển và kết nối dữ liệu. Ngành ngân hàng đã đầu tư nâng cấp hạ tầng dữ liệu, bảo đảm nguyên tắc “đúng, đủ, sạch, sống, thống nhất, dùng chung”. Việc khai thác cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư và ứng dụng VNeID đã giúp xác thực, làm sạch dữ liệu khách hàng ở quy mô lớn.
Tính đến tháng 4/2026, hơn 156,6 triệu hồ sơ khách hàng đã được đối chiếu sinh trắc học; Trung tâm Thông tin tín dụng quốc gia đã xử lý khoảng 57 triệu lượt hồ sơ, làm sạch gần 44,5 triệu hồ sơ. Đồng thời, hàng chục tổ chức tín dụng và trung gian thanh toán đã tích hợp xác thực sinh trắc học và VNeID trong dịch vụ ngân hàng số.
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cũng đã hoàn thành đồng bộ 4 cơ sở dữ liệu chuyên ngành lên Trung tâm dữ liệu quốc gia, đồng thời xây dựng các API chia sẻ dữ liệu với Văn phòng Chính phủ và Kiểm toán Nhà nước, góp phần hình thành hệ sinh thái dữ liệu liên thông trong toàn hệ thống.
Trong bối cảnh chuyển đổi số gia tăng, công tác bảo đảm an ninh, an toàn được đặc biệt chú trọng. Hệ thống SIMO hỗ trợ giám sát và phòng ngừa rủi ro đã được triển khai rộng rãi, cho phép các tổ chức chia sẻ thông tin về tài khoản nghi ngờ và kịp thời cảnh báo khách hàng.
Đến cuối tháng 4/2026, hệ thống này đã hỗ trợ cảnh báo hơn 3,8 triệu lượt khách hàng; hơn 1,2 triệu giao dịch đã được tạm dừng hoặc hủy bỏ, tương ứng số tiền hơn 4,3 nghìn tỷ đồng. Điều này cho thấy chuyển đổi số không chỉ nâng cao tiện ích mà còn đóng vai trò bảo vệ tài sản và quyền lợi của người dân.
Cải cách hành chính gắn với số hóa toàn trình cũng đạt nhiều kết quả rõ nét. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã cắt giảm hơn 90% thủ tục hành chính, đồng thời cung cấp 57 dịch vụ công toàn trình. Tỷ lệ số hóa hồ sơ đạt gần 74%, tỷ lệ cấp kết quả điện tử gần 79%, mức độ hài lòng của người dân, doanh nghiệp duy trì hơn 90%.
Đáng chú ý, phong trào “Bình dân học vụ số” đã được triển khai sâu rộng trong toàn ngành, góp phần nâng cao nhận thức và kỹ năng số cho cán bộ. Toàn ngành đã ghi nhận 1.484 sáng kiến, trong đó có 37 sáng kiến số, cùng với mạng lưới hơn 2.600 “đại sứ số” và “hạt nhân số” tại các đơn vị.
Có thể thấy, chuyển đổi số ngân hàng không còn là xu hướng mà đã trở thành động lực phát triển cốt lõi. Từ hoàn thiện thể chế, phát triển hạ tầng đến đổi mới dịch vụ và quản trị dữ liệu, toàn ngành đang từng bước hình thành nền tảng số vững chắc, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, nâng cao năng lực cạnh tranh và phục vụ tốt hơn người dân, doanh nghiệp trong kỷ nguyên số.