Phát triển bền vững làng nghề truyền thống

TP Hồ Chí Minh hiện còn khoảng 60 ngành nghề tiểu thủ công nghiệp, tập trung ở 19 làng nghề. Do tác động của quá trình công nghiệp hóa và tốc độ thị hóa nhanh, nhiều làng nghề truyền thống của thành phố đang đối mặt với nguy cơ mai một. Để giúp các làng nghề vượt qua khó khăn, phát triển bền vững, thành phố đã triển khai nhiều giải pháp bảo tồn và phát triển làng nghề…

Công việc thường ngày của những người thợ ở làng đúc lư đồng An Hội (quận Gò Vấp).
Công việc thường ngày của những người thợ ở làng đúc lư đồng An Hội (quận Gò Vấp).

Sức sống làng nghề

Một trong những làng nghề thường xuyên hoạt động và có số hộ theo nghề khá đông là làng nghề làm nhang ở xã Lê Xuân Minh, huyện Bình Chánh. Nghề này đã tồn tại ở Bình Chánh từ hơn nửa thế kỷ trước.

Những ngày tháng 4, dù không phải là cao điểm lễ, Tết, nhưng đi dọc tuyến đường Mai Bá Hương, chúng tôi dễ dàng nhận ra trung tâm của làng nghề làm nhang bởi hai bên đường được bà con tận dụng để phơi tầng tầng, lớp lớp tăm tre, nhang thành phẩm. Theo lãnh đạo địa phương, làng nghề làm nhang đã được thành phố công nhận là làng nghề truyền thống từ năm 2012. Hiện, xã đã hình thành được ba tổ hợp tác làm nhang với số lượng hơn 150 hộ. Ngoài ra, còn có nhiều hộ mở cơ sở sản xuất theo hình thức kinh doanh cá thể, đầu tư máy móc để lưu giữ và phát triển nghề. Nghề làm nhang truyền thống vẫn khá phát triển ở xã Lê Minh Xuân, không chỉ mang lại lợi ích kinh tế, giải quyết việc làm cho nhiều lao động nông thôn mà còn góp phần bảo tồn những giá trị truyền thống.

Ở huyện Củ Chi, từ mấy thập niên trước đã nổi tiếng với nghề làm mành trúc Tân Thông Hội. Sản phẩm của làng nghề Tân Thông Hội không chỉ được tiêu thụ trong nước, mà còn xuất khẩu sang nhiều quốc gia trên thế giới. Ông Đặng Thế Vinh, chủ một cơ sở mành trúc ở ấp Bàu Sim, xã Tân Thông Hội, cho biết: “Mành trúc ở đây được sản xuất hoàn toàn bằng đôi tay khéo léo, điêu luyện của những người thợ. Ngay từ khâu lựa chọn loại trúc để làm nguyên liệu cũng phải đạt tiêu chuẩn đường kính nhỏ, tròn đều, thường dùng phần ngọn. Những nhánh trúc được cạo sạch lớp lụa bên ngoài trước khi cắt đều thành từng khoanh nhỏ, ngâm trong nước bồ hòn để chống mối mọt, rồi đem phơi khô chừng hai nắng hoặc sấy ở nhiệt độ từ 70 đến 80oC, bảo đảm cho sản phẩm làm ra vừa đẹp, vừa tốt”.

Quan sát những người thợ làm nghề mới thấy hết sự công phu, tỉ mỉ trong từng nút thắt, giật mành. Xã Tân Thông Hội hiện có bảy cơ sở lớn chuyên gia công mành mộc cho các cơ sở sản xuất, kinh doanh xuất khẩu mành trúc trên địa bàn thành phố. Lao động của các cơ sở hầu hết là thành viên trong gia đình và hiện có hơn 500 hộ dân làm gia công chủ yếu trong xã và các địa phương lân cận. Dù khá phát triển nhưng nghề mành trúc Tân Thông Hội đang gặp không ít khó khăn do giá nguyên liệu tăng cao, thị trường bị thu hẹp.

Đó cũng là nỗi niềm của các nghệ nhân làng đúc lư đồng An Hội (quận Gò Vấp), xóm lồng đèn Phú Bình (quận 11), làng bao giấy Bình Đông (quận 8)… Nghệ nhân Bùi Thị Xuân, ngụ xóm lồng đèn Phú Bình, tâm sự: “Làng nghề đang gặp khó khăn về mặt bằng sản xuất, nguồn vốn tín dụng, tài sản thế chấp để vay vốn. Bên cạnh đó, thị trường tiêu thụ ngày càng thu hẹp cho nên nhiều làng nghề hầu như chỉ cầm cự chứ không dám nghĩ đến việc mở rộng, nếu như không được hỗ trợ đúng mức”.

Cần sự hỗ trợ kịp thời, hiệu quả

Các làng nghề ở TP Hồ Chí Minh có bề dày lịch sử từ 50 đến 100 năm, trong đó nhiều làng nghề nức tiếng một thời. Song, do quá trình mở rộng các khu đô thị mới, nâng cao hiệu quả sử dụng đất đô thị, tối đa hóa lợi ích kinh tế và tạo ra quang cảnh một đô thị hiện đại… khiến nhiều làng nghề đang bị teo lại.

Làm gì để bảo tồn và phát triển làng nghề truyền thống, vấn đề này đã được thành phố bàn tính từ nhiều năm nay. Đã có dự án quy hoạch làng nghề, tầm nhìn đến năm 2020 gắn với quá trình xây dựng nông thôn mới, trong đó tập trung bảo tồn và phát triển các làng nghề mang đậm nét văn hóa truyền thống, các làng nghề có khả năng phát triển độc lập, bền vững. Đồng thời, xây dựng thí điểm một mô hình làng nghề tập trung nhằm đáp ứng nhu cầu đầu tư, phát triển ngành nghề nông thôn, nhưng việc triển khai chưa thật sự hiệu quả. Theo Tiến sĩ, Kiến trúc sư Ngô Lê Minh (Trường đại học Tôn Đức Thắng), cấu trúc chặt chẽ của làng nghề giúp hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực của xã hội và đóng góp tích cực vào việc phát triển kinh tế, xây dựng đời sống văn hóa tại cơ sở. Do đó, cần có chính sách và cơ chế quản lý phù hợp để giúp bảo vệ, nâng cao giá trị các làng nghề truyền thống, nhất là các làng nghề ngoại ô, hình thành nên một vùng ven đô trù phú, sung túc và hỗ trợ phát triển cho trung tâm đô thị.

Vực dậy làng nghề truyền thống không chỉ giải quyết việc làm cho một bộ phận lao động thủ công, mà còn hạn chế tình trạng “nhảy việc” vào nội thành gây nhiều tác động tiêu cực về nơi ở, sinh hoạt, an ninh, trật tự… Thạc sĩ Trịnh Thị Hiền (Viện Nghiên cứu phát triển TP Hồ Chí Minh) cho rằng: Hiện nay, sự phát triển làng nghề vẫn mang tính tự phát, nhiều cơ sở sử dụng công nghệ lạc hậu do không đủ vốn đầu tư đổi mới kỹ thuật, mở rộng sản xuất, cho nên chưa có chỗ đứng tương xứng. Bởi vậy, cần sự hỗ trợ hiệu quả từ chính quyền địa phương, nhất là về vốn và chính sách ưu đãi. Đồng thời, việc quy hoạch làng nghề cần quy hoạch cả vùng nguyên liệu.

Thời gian qua, thành phố đã có chính sách hỗ trợ kinh phí thành lập mới hợp tác xã làng nghề, ngành nghề nông thôn; hỗ trợ cán bộ có trình độ đại học, cao đẳng công tác tại các hợp tác xã nông nghiệp và các cá nhân, tổ chức tham gia bảo tồn, phát triển làng nghề trên địa bàn được vay vốn, có hỗ trợ lãi suất… Đây là những giải pháp thiết thực cần được thực hiện đồng bộ, hiệu quả để tiếp sức cho các làng nghề tồn tại và phát triển.

Có thể bạn quan tâm