Ðến Trung tâm Bảo trợ xã hội tỉnh Bắc Giang, một buổi trưa mất điện, nắng gắt. Khuôn viên rợp bóng cây xanh và câu chuyện của Giám đốc Tá Quang Vĩnh về công việc và những con người nơi đây, làm cả người nói và người nghe tạm quên bầu không khí oi ả.
Trung tâm được thành lập từ năm 1997. Với 32 cán bộ, nhân viên, nhận nuôi dưỡng 115 người thuộc bốn nhóm đối tượng: người già cô đơn không nơi nương tựa; người tâm thần đi lang thang; trẻ mồ côi, bị bỏ rơi và trẻ tật nguyền. Vào đây, mỗi thân phận một hoàn cảnh, một bất hạnh. Có người mang nỗi đau thể chất, người khác mang nỗi đau tinh thần. Họ đến đây cùng sống và cùng sẻ chia.
Ông Tá Quang Vĩnh tâm sự: Trụ lại được ở nơi này phải là những con người có tấm lòng nhân từ, sẵn sàng chia sẻ, cảm thông với hoàn cảnh và nỗi đau của người khác. Ðặc biệt, những cán bộ, nhân viên nhận trách nhiệm chăm sóc và nuôi dưỡng, họ thật sự là những người dũng cảm. Bởi công việc hằng ngày của họ là tiếp xúc người bệnh nặng, nhiều lúc bị người bệnh thần kinh đuổi đánh khi vào thăm bệnh, cho ăn uống. Nhiều trẻ em bị bỏ rơi khi vừa cất tiếng khóc chào đời, một số cháu mắc các bệnh nguy hiểm như đao, não úng thủy, hay bệnh truyền nhiễm như viêm gan B, HIV...
Ðối với các cụ già không nơi nương tựa, trẻ mồ côi, bị bỏ rơi, mặc cảm về thân phận, về nỗi cô đơn trong họ là rất lớn, tâm hồn nhạy cảm, dễ bị tổn thương, do đó nếu không có tình thương thật sự của những ông bố, bà mẹ, những người con hiếu thảo thì không thể hằng ngày, hằng giờ an ủi, vỗ về, xoa dịu buồn tủi, cô đơn cho những người không quen biết; trong khi trung tâm vẫn chưa có chế độ đãi ngộ đặc biệt dành cho những người chăm sóc người bệnh HIV.
Dưới gốc cây nhãn, một cụ bà ngồi tha thẩn, cầm cành cây vẽ nguệch ngoạc những đường lòng vòng trên mặt đất. Chỉ nhìn hành động như con trẻ ấy cũng có thể cảm nhận nỗi cô đơn đang dày vò tâm hồn vốn đã héo hắt của bà. Tôi lại gần và được biết, bà tên là Cúc, nhà ở Ðiếm Tổng, nhưng không biết do bà không nhớ tuổi mình hay do hoàn cảnh mà trông bà già hơn rất nhiều so với tuổi 60. Vào đây đã được vài năm, dù được chăm sóc chu đáo, có những người bạn già cùng cảnh ngộ, nhưng bà Cúc vẫn cảm thấy buồn. Nhìn đôi mắt vốn đã mờ, không thần thái, dõi vào xa xăm, tôi thấu hiểu nỗi gắng gượng của bà trong những năm tháng cuối đời.
Cậu bé Tân, năm nay đang học lớp 11, cách đây vài năm, bố mẹ em vào Tánh Linh (Bình Thuận) làm kinh tế chẳng may bị voi dữ giẫm chết trong đêm khi còn đang ngủ; hay em Ðặng Thị Mai, 18 tuổi, mất mẹ lúc mới ba tuổi trong một buổi mẹ đi chợ bị đắm đò, vài năm sau, bố em cũng bị cảm ngoài đồng và bỏ lại hai chị em bơ vơ. Mai được đưa vào trung tâm, còn em gái cũng được nuôi dưỡng trong một trại trẻ mồ côi ngoài Hà Nội. Mai bảo: Cháu và các bạn ở đây coi nhau như anh, chị em một nhà, Trung tâm là ngôi nhà thứ hai của mình. (Mai vừa hoàn thành kỳ thi tuyển vào Ðại học Hải Phòng). Và còn nhiều lắm những số phận không may mắn, những hoàn cảnh thương tâm. Họ đến và đã tìm thấy ở nơi đây tình cảm gia đình ấm áp, đùm bọc và sẻ chia.
Ðến khu nhà dành cho những đứa trẻ bị bỏ rơi, mắc bệnh nặng, quan sát từ phía ngoài, tôi có cảm giác khu nhà cũng giống như bao nhà trẻ bình thường khác. Một người phụ nữ trung niên, tay cầm chiếc nón quạt liên tục cho những đứa trẻ ngồi quanh chị. Chị nói, với chúng điều gì tôi không nghe được, nhưng nhìn ánh mắt trìu mến chị dành cho chúng, tôi biết chị thương chúng thật nhiều. Khi chúng tôi bước vào, một bé thấy người lạ, nép sát vào chị hơn. Chị là Phạm Thị Hòa, 49 tuổi, có gia đình và những đứa con khỏe mạnh. Trong khi nói với chúng tôi về công việc của mình, chị luôn nhắc đến hai chữ bình thường: bình thường khi ôm ấp, tắm rửa cho những đứa trẻ nhiễm HIV, viêm gan B, bình thường khi chăm sóc bé Phúc. Phúc bị não úng thủy nên đầu luôn rỉ nước vàng, hằng ngày chị cũng như các mẹ ở đây thường bế em ra ngoài tắm nắng, tắm nước lá chè xanh...
Chị chỉ đứa bé ngồi sát bên mình và nói, giọng không khỏi xót xa: "Nó bị bỏ rơi từ lúc mới lọt lòng, bị nhiễm HIV nhưng nó ngoan lắm... Hồi đầu mới vào đây, tôi cũng có chút căng thẳng nhưng rồi dần quen và thương bọn trẻ, hết ca trực hay ngày nghỉ lại thấy nhớ. Ðã có người bỏ việc, nhưng chúng tôi, ai đã ở lại thì đều hết lòng. Vì chúng thật tội nghiệp". Nhìn đứa bé trắng trẻo, bụ bẫm, chợt thấy xót xa, nó chỉ bằng tuổi con nhỏ của tôi. Ánh mắt thơ ngây của bé nhìn mình mà tôi có cảm giác nhói đau nơi lồng ngực. Bé còn quá nhỏ để hiểu nỗi đau của chính mình.
Lương Thị Lý là một cô gái còn rất trẻ, mới 27 tuổi nhưng đã có ba năm làm việc tại đây. Cô mới lập gia đình được vài tháng. Biết cô làm việc thiện nên cả chồng và hai bên gia đình đều ủng hộ. Nói về cảm giác của mình, Lý bảo: "Em không thấy sợ vì đã được học cách phòng tránh hết rồi. Lũ trẻ đáng thương lắm chị ạ. Có những cháu được nhặt về khi còn chưa cắt dây rốn. Tuy chưa có con, nhưng chăm chúng lâu ngày, em có cảm giác chúng như con mình, nhiều khi con ốm, các mẹ thay nhau thức trắng đêm. Chị nhìn xem, bé này mới hơn bốn tháng đã sắp biết bò, chắc nó cũng cảm nhận được thiệt thòi của mình mà tự lập từ nhỏ". Nhìn cách Lý vỗ về, nựng nịu, cho các bé uống sữa vừa thuần thục, vừa tràn đầy yêu thương, tôi thầm mừng cho chồng của cô đã tìm được một người vợ có trái tim nhân hậu.
Phía sau cùng là dãy nhà dành cho người bệnh tâm thần. Họ là những người sống lang thang trong địa bàn thành phố Bắc Giang được đưa về đây. Khu nhà quây lưới mắt cáo. Thấy có khách lạ, một số người ùa ra bám lấy cửa sắt. Bác sĩ Vũ Minh Hường, người chịu trách nhiệm khám và điều trị người bệnh tâm thần, cho biết: Họ lang thang quen rồi, sống bản năng, mất hết nhận thức về quan hệ cộng đồng, vào đây được học cách tự chăm sóc bản thân, dạy họ giống như dạy trẻ con, chủ yếu là dỗ dành, an ủi. Không phải lúc nào họ cũng la hét, đập phá, lúc vui, lúc buồn cũng mong có sự chia sẻ, thấy mình đến khám bệnh, cho ăn họ cũng tỏ ý mừng vui, khi mở cửa cho ra ngoài họ chắp tay vái lạy như muốn cảm ơn... Cũng như tất cả mọi người ở đây, chúng tôi đều coi việc này cũng như bao việc khác, làm cho người khác vui là mình cũng thấy vui rồi. Chúng tôi ở đây vì thấy mình cần cho cuộc sống của họ.
Nơi đây thấm đượm tình người.