Tháng ba, mùa cày nương gieo ngô lai vụ xuân, tôi lên "vựa ngô" Si Ma Cai ở thượng nguồn sông Chảy hùng vĩ, thơ mộng. Gặp ở ngang dốc Cán Chư Sử, gần chợ trâu Cán Cấu nổi tiếng vùng Tây Bắc, vợ chồng Lừu Mý Lùng mang cả đứa con nhỏ lên nương để làm đất gieo ngô lai giống mới trên quả đồi lởm chởm những đá là đá. Dừng tay cày, anh chồng vạm vỡ, mắt xếch, nói to như đập lúa vào thùng: Bây giờ có đường đi tốt rồi, ngô hạt, đậu tương khô được giá, có bao nhiêu, người ở miền xuôi cũng đánh xe ô-tô vào tận bản mua hết. Không phải địu lù cở còng cái lưng nữa, chỉ lo không làm được nhiều hàng để bán thôi. "Ðất ít, đá nhiều như thế kia, làm thế nào để có nhiều ngô?". "Mình phải có cách làm cho đất lớn nhanh hơn đá chứ, để đá nó ăn mất cây ngô là dân bản mình đói, nghèo ngay đấy". Rồi anh giải thích, Si Ma Cai nổi tiếng là nắng cháy trời, mưa thối đất, mùa mưa rừng kéo dài hằng tháng làm xói mòn đất, trơ khấc từng chỏm đá trên nương, vườn. Cái cách người Mông làm cho đá phải "lùn" đi, không "lớn" được là phải khéo léo lách lưỡi cày sắc bén do chính tay họ rèn, vào từng khe đá mà lật lên từng thớ đất quý như vàng. Mỗi ngày đi làm, các cô gái Mông cần mẫn địu từng lù cở đất lấp đầy các hốc đá để cây ngô mọc xanh trên đá, kết bột thơm nuôi người. Cứ thế, đất luôn được bồi đắp để người Si Ma Cai sinh sống, quần tụ trên đá.
Theo tài liệu địa chất, Si Ma Cai nằm ở vòm nhô thượng nguồn sông Chảy, đây là vùng đất cổ nhất của Lào Cai, được kiến tạo trên vùng núi đá cát-tơ, có những đứt gãy lớn cho nên hình thành núi cao, sông sâu hiểm trở. Ngày mới lập huyện, cách đây hơn mười năm, Si Ma Cai như một ốc đảo, bởi đường sá rất kém và thiếu, cả huyện không có một mét đường đá hay đường nhựa, tất cả là đường đất, trong đó chỉ có năm xã có đường đất rộng bốn mét, còn lại tám xã là đường mòn. Cán bộ tỉnh lên Si Ma Cai công tác nói vui là đi đường "con hươu, con nai", bởi toàn huyện không có đường liên thôn, muốn xuống bản chỉ có đi bộ hoặc khá lắm là mượn được "cúp lông" (ngựa) của đồng bào cưỡi mà đi. Ngày nay, bộ mặt nông thôn Si Ma Cai đã khởi sắc nhờ những con đường mới mở dọc, ngang trên đá rắn. Hôm tôi đến, dân bản Sảng Mản Thẩn mở hội mừng con đường làm bằng sức của gần hai nghìn người dân xã Mản Thẩn cùng nhau hợp lực, phá băng tảng đá lớn như cánh cửa chặn ngang con đường mòn độc đạo, kìm hãm 38 hộ người Mông nơi đây giao thương với bên ngoài. Ông Giàng Seo Sáng, trưởng thôn Sảng Mản Thẩn kể: Không có thuốc mìn, thanh niên trong xã thay nhau dùng củi nung nóng đá, quai búa tạ, đánh liên tục bốn ngày liền thì tảng đá lớn vụn nát, mở toang con đường rộng hơn ba mét cho xe máy, ô-tô lăn bánh từ trung tâm xã vào tận bản. "Bây giờ có ngô, đậu tương, gỗ rừng trồng hay trâu, bò, lợn gà..., người ta đánh xe vào mua hết veo, không lo bị mốc hỏng, lại được giá cao hơn, thật sướng cái bụng?"- Trưởng thôn cười sảng khoái, nhả khói thuốc lào trắng như sương bay. Từ chỗ "trắng" giao thông, đến nay toàn bộ số thôn, bản của huyện nghèo nhất tỉnh này đã có đường đi lại, là một trong bốn địa phương có đường đến tất cả các thôn, bản; trở thành lá cờ đầu của tỉnh về phát triển hạ tầng giao thông nông thôn.
Trưởng phòng kinh tế hạ tầng Lưu Ðình Hạnh cho biết: Bí quyết là dựa vào dân, dân thông suốt chủ trương, dân hiến kế, dân đóng góp và dân trực tiếp làm đường. Ðể khơi thông nội lực sức dân, thổi bừng lên phong trào làm đường giao thông nông thôn ở 13 xã, huyện chọn tuyến đường khó nhất là thôn Cốc Rế, xã Bản Mế để mở đầu. Nghe tin mở đường Cốc Rế, có người già trong bản nói oang oang: "Từ bé đến giờ chưa thấy ai dám làm đường Cốc Rế toàn đá cheo leo bên vách núi thượng nguồn sông Chảy này, nếu mà làm được thì nước sông Chảy chảy ngược thôi". Nghe chuyện đó, lãnh đạo huyện càng quyết tâm mở bằng được con đường khó bậc nhất này, cũng là "mở" lòng dân cùng chung sức thoát nghèo. Ðồng bào dân tộc quen nói ít làm nhiều, nhìn vào việc làm của cán bộ mà tin theo. Huyện cử cán bộ đo đạc cắm tuyến, lo thuốc nổ phá đá, còn dân hiến đất, góp công sức bạt núi san đồi, cuối cùng con đường Bản Mế dài hơn 20 km, mặt nền rộng bốn mét cấp phối đã thông, xe máy, ô-tô chạy băng băng. Từ Bản Mế, phong trào làm đường ở Si Ma Cai lan rộng khắp các xã, chỉ trong hai năm, huyện mở mới được hàng trăm km đường liên xã, liên thôn, bản. Nhờ hệ thống giao thông nông thôn phủ khắp các bản làng, đồng bào các dân tộc Mông, Dao, Tày, Nùng... sống trên rẻo cao biên giới vùng thượng nguồn sông Chảy có cơ hội thoát nghèo, vươn lên làm giàu, nâng cao dân trí và đời sống văn hóa.
Lúc ở trụ sở huyện, tôi nghe Chủ tịch UBND huyện Nguyễn Văn Phúc nói, đột phá vào làm đường giao thông đến tận thôn, bản là tạo chìa khóa mở cánh cửa sản xuất hàng hóa, để giúp người dân thoát nghèo bền vững. Ðất đai toàn đá, thiếu nước tưới, Si Ma Cai chọn cây ngô làm mũi nhọn, vì nó thích ứng khí hậu, thổ nhưỡng vùng núi đá này. Trưởng phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Viên Ðình Hiệp cho biết, trước đây bà con người Mông thường trồng giống ngô địa phương, dùng làm lương thực hằng ngày, không dùng gạo. Giống ngô này ăn ngon nhưng năng suất thấp, vì thế thiếu đói thường xuyên diễn ra ở các bản, làng, năm nào Nhà nước cũng phải hỗ trợ gạo cứu đói cho dân vào kỳ giáp hạt. Ðể đưa cây ngô lai vào nương rẫy của người Mông, huyện huy động cán bộ, nhân viên các ban, ngành, đoàn thể gom hết các máy tính xách tay và đèn chiếu của cả huyện, được gần mười cái, buổi tối đem xuống các thôn, bản chiếu cho bà con xem cách thâm canh ngô lai hàng hóa, thay cho dùng ngô giống cũ làm lương thực, năng suất thấp. Huyện ủy yêu cầu Bí thư Chi bộ thôn, bản và đảng viên phải gương mẫu vận động gia đình, anh em làm trước để bà con học theo. Khuyến nông huyện tổ chức các mô hình trình diễn đầu bờ để đồng bào tham gia. Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn có tám kỹ sư, trong máy điện thoại di động của người nào cũng lưu số máy liên lạc của trưởng thôn, già làng có uy tín, hộ sản xuất giỏi của xã, thôn bản để tư vấn kỹ thuật sản xuất. Không "trồng ngô" trên giấy, mỗi kỹ sư nông nghiệp ở đây, một tháng có ít nhất già nửa thời gian cắm bản, bám ruộng nương, bám dân để hướng dẫn thâm canh, gối vụ, tăng hệ số sử dụng đất. Cách làm trực quan sinh động, cầm tay chỉ việc đã đi thẳng vào nhận thức của bà con dân tộc thiểu số, làm thay đổi tập quán canh tác lạc hậu còn tồn tại trong một bộ phận đồng bào. Người Mông, Dao, Tày, Nùng... trên các vùng núi đá Si Ma Cai giờ đây đều trồng ngô giống mới như NK66, NK4300 của Ấn Ðộ; CP3Q và CP888 của Thái-lan; giống C919 và DK9901 của Mỹ..., được Nhà nước hỗ trợ theo Chương trình 30a; thuần thục thâm canh và dùng máy tẽ hạt, sấy khô thay cho cách làm thủ công nên đã nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế. Từ năm 2009, huyện chỉ đạo làm thêm vụ ngô hè thu và xen canh đậu tương, chỉ tính riêng việc tăng vụ ngô hè thu trên 1.320 ha đất bỏ trống đã tăng thêm hơn 4.000 tấn ngô hạt, trị giá khoảng 26 tỷ đồng, tăng thêm gần hai triệu đồng/ha đất canh tác. Lên Si Ma Cai tôi bất ngờ trước "sáng kiến" của bà con nơi đây dùng ống nước để vận chuyển ngô từ trên đỉnh núi cao xuống đường lớn. Bà con lắp ống nước bằng nhựa loại phi 90 thành đường ống rồi thả bắp ngô từ trên núi cho trôi xuống phía dưới, vào thẳng bao tải hoặc thùng xe, rất tiện lợi, không phải gùi nặng trên đường dốc. Hiện tại, Si Ma Cai có khoảng hơn 4.000 ha ngô hàng hóa, với sản lượng gần 15 nghìn tấn/năm, được mệnh danh là "vựa ngô" của tỉnh Lào Cai. Nhờ chuyển đổi sản xuất theo hướng hàng hóa, mỗi năm Si Ma Cai giảm được hàng nghìn hộ nghèo một cách bền vững.
Nắng chiều vàng nhạt buông trên cao nguyên đá Si Ma Cai. Dưới khe sâu kia, con sông Chảy uốn lượn như chiếc khăn thổ cẩm của thiếu nữ Tày xòe trong ngày hội xuống đồng, đổ nước về xuôi quay tua bin thủy điện Thác Bà. Nắng xuân nơi thượng nguồn sông Chảy lung linh sắc màu, lung linh ánh sáng.